Ý nghĩa và nguồn gốc của hai vị Thần Tài & Thổ Địa

Đức Phật từng dạy cư sĩ mỗi tháng nên chia khoản tiền lương của mình thành bốn phần, 25% chi cho việc từ thiện, 25% chi cho việc hiếu thảo, 25% chi tiêu hằng ngày, và 25% còn lại bỏ ống heo hoặc gởi tiết kiệm ngân hàng để có thể sử dụng về sau.

y-nghia-va-nguon-goc-cua-hai-vi-than-tai-tho-dia

Thần tài và Thổ địa

Ở Việt Nam, tín ngưỡng Thần tài gắn liền với Thổ địa. Hầu như không có sự phân biệt rạch ròi giữa hai vị thần có nguồn gốc từ Trung Hoa. Đến khoảng thế kỷ XIX, việc tách lập thành hai vị mới bắt đầu được nhấn mạnh ở Việt Nam, bây giờ khắp nơi người ta thờ Thần tài và Thổ địa như cặp song sinh. Gốc rễ của nền văn hóa dựa vào ngũ hành tương sinh: Thổ sinh kim. Thần tài thuộc mạng kim và hành kim; Thổ địa thuộc mạng thổ, đại trạch thổ. Không có quặng kim loại nào tồn tại ngoài lòng đất, nói đến Thần tài là nói đến tiềm năng của Thổ địa.

Thần đất kéo theo Thần tài, tiềm năng mở ra hiện thực, đầu tư dẫn đến kết quả, nhân và quả hoạt động song hành với nhau dưới sự hỗ trợ của yếu tố nhân duyên thích hợp. Mổ xẻ ý nghĩa biểu tượng từ góc độ nhân quả đạo Phật thì giá trị văn hóa đó như niềm tin mê tín, cần tháo gỡ hình ảnh vị thần ban cho con người phúc lộc, gia tài, sự nghiệp, công danh và tiền bạc.

Tín ngưỡng Thần tài không phải đơn nhất. Trải qua gần 1.000 năm, người Trung Quốc thờ ba vị Thần tài khác nhau là Thần tài Bạch Tinh Quân, Thần tài Âm Phủ và Thần tài Lưu Hải. Theo học thuyết nhân quả Phật giáo, các vị Thần tài là không có thật. Nhân quả thiện ác có thật. Muốn giàu sang phú quý nên làm nhiều việc lành với động cơ vô ngã và vị tha. Thay vì cầu nguyện Thần tài gia hộ cho bản thân và gia đình, tốt nhất là dùng việc thiện cao thượng làm vệ sĩ và hộ pháp. Không trở ngại nào có thể làm dao động tâm ta được. Do đó nhân dịp Xuân về, khi nói đến Thần tài gõ cửa là nói về thiện chí làm lành gõ cửa tâm chúng ta.

Thần tài Bạch Tinh Quân

Tên gọi đầy đủ là Kim Thần tài Bạch Tinh Quân, Kim Thần là vị thần vàng bạc, tài bạch chỉ cho sự giàu sang phú quý, Tinh Quân là vị quán quân ở trên trời làm nhiệm vụ quán sứ các vì sao và trưởng quản của cải tài lộc cho con người.

Hình ảnh vị Thần tài Bạch Tinh Quân có gương mặt trắng với bộ râu dài, tay trái cầm thỏi vàng nguyên bảo, tay phải cầm quyển sách với bốn chữ là “Thần Tài Tiến Bảo”, đó là vị Thần tài mang tiền bạc, ngọc ngà châu báu đến tặng cho ta.

Nguồn gốc của Thần tài Bạch Tinh Quân có sự tích từ vị tướng tài ba lỗi lạc tên là Phạm Lãi. Ông phò Việt Vương Câu Tiễn suốt nhiều năm nằm gai nếm mật, về sau chiến thắng giành được chủ quyền độc lập quốc gia và trả thù được Ngô Phù Sai. Đến khi thời bình, Phạm Lãi từ quan, về ở ẩn cùng với sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành của nàng Tây Thi, vân du khắp chốn và cuối cùng về trú ngụ ở vùng Ngũ Hồ, nơi thôn ấy có tên là Đào. Kể từ đó, người ta đặt biệt danh cho ông là Đào Công, ông trở thành thương buôn giàu sang phú quý. Sau khi ông qua đời, người ta làm hình tượng ông để tôn thờ, trong đó có đề bốn chữ “Đào Công Phất Nghiệp”, nghĩa là Phạm Lãi ở làng Đào nổi tiếng về cơ nghiệp giàu sang, phú quý sau cuộc chinh chiến thành công.

Cuộc đời Phạm Lãi từ vị tướng tài ba, sau đó trở thành thương buôn giàu sang, phất lên cơ nghiệp khiến nhiều người hy vọng  nếu chịu khó nỗ lực chân chính như ông thì tương lai giàu sang tốt đẹp nằm trong lòng bàn tay. Ý nghĩa của vị thần này là mang hòa bình, giàu sang, thịnh vượng đến cho công việc làm ăn và kinh doanh.

Theo Phật giáo, năm nào cũng có sự kiện thuận và nghịch, tháng nào cũng có sự kiện đáng nhớ và quên, ngày nào cũng có lúc vui và buồn. Tốt-xấu, may-rủi, thuận-nghịch, thăng-trầm luôn diễn ra với mỗi con người trong các giai đoạn của năm tháng, ngày giờ, ta để ý thì nhớ và không quan tâm thì quên. Khi mê tín, con người có khuynh hướng gắn kết các chuyện vui buồn với các vì sao, từ đó tạo ra sợ hãi và ám ảnh. Chỉ cần sự cố nhỏ xảy ra, họ có thể nhớ vanh vách và vội kết luận rằng mình đã bị sao xấu chiếu mệnh. Ngược lại, trong năm đó có những sự kiện tốt diễn ra thì người ta lại chẳng nhớ gì cả. Hoặc thậm chí vào những năm được khẳng định rõ có sao tốt chiếu mệnh, không ít người vẫn gặp nhiều chuyện xui xẻo và rủi ro xảy đến, thế mà họ không mảy may để ý hoặc quan tâm. Điều đó cho thấy ý thức về sự không có mặt của sự kiện thì việc cường điệu hóa về nó được phá vỡ, lúc đó con người có khuynh hướng xem mọi việc diễn ra chỉ là điều bình thường.

Niềm tin về sao chiếu mệnh làm con người thất điên, bát đảo sống trong lo âu, sợ hãi. Chính điều này gây cho con người nhiều bệnh tật và vẫy tay chào với những cơ hội đầu tư. Do đó muốn có tài bạch, theo Phật giáo ta nên sống cuộc đời chân chính, lập nghiệp có phương pháp, đầu tư đúng cách, hành động cao thượng, lời nói chuẩn mực và uy tín. Lúc ấy, không cần cầu nguyện, phước lộc vẫn đến như kết quả tất yếu của những hạt giống lành.

Thần tài Âm Phủ

Thần tài Âm Phủ có hình thù là vị phán quan với gương mặt đen sạm, bộ râu rậm rạp, tay cầm chiếc roi cưỡi trên lưng con cọp đen, đầu đội chiếc mũ ống cao đề bốn chữ “Nhất Kiến Phát Tài”, khi nhìn thấy là phát tài ngay bởi người Trung Hoa rất tin về điều này.

Thần tài Âm Phủ có sự tích từ  vị quan nổi tiếng ở Trung Hoa đời nhà Tần, tên là Triệu Công Minh. Sau khi từ quan, ông ở ẩn tu trên núi Trung Sơn, Trung Nam. Khi chứng đạo, ông được phong là Chánh Nhất Quyền Đàng Nguyên Soái với chức năng trừ ôn dịch, bệnh tà, giải oan ức, cầu tài lộc, ai muốn có nhiều tiền bạc, đầu tư đến đâu trúng đến đó thì hãy đến vay tiền của Thần tài Âm Phủ, mua đất đai hoặc nhà cửa với hy vọng đầu tư một mà thành quả  mười.

Tình trạng đầu cơ, tích trữ mà không hiểu biết về kinh tế thị trường như nhân quả kinh tế trong thời hiện đại này thì nhiều người dễ trắng tay. Chẳng hạn đầu tư vào thị trường chứng khoán là ví dụ điển hình. Không nắm vững quy luật mà đầu tư vào thì xem đây là trò chơi đen đỏ đầy rủi ro, không phải điều mà Phật tử hy vọng và hướng đến. Có thắng đi chăng nữa thì đó là đồng tiền mồ hôi, nước mắt, sụp đổ và cái chết của những người thua cuộc.

Người Trung Hoa quan niệm cõi âm là vĩnh hằng, cõi dương chỉ là cõi tạm  nên có thành ngữ “Sanh ký tử quy”, nghĩa là “Sống gởi thác về”. Khi người qua đời được gọi “Về nơi chín suối” hoặc “Yên nghỉ nghìn thu”, thực tế những ai yên nghỉ nghìn thu, gởi lại phần hồn dưới lòng đất thì người đó thiệt thòi và khổ đau. Đạo Phật gọi đó là “ngạ quỷ” bị đói khát về cảm xúc, tình yêu, tình thương, sự hưởng thụ và tất cả mọi thứ liên hệ đến các giác quan. Quan niệm về cõi âm vĩnh hằng mà các vị Pha-rao (vua cai trị Ai Cập) ngày xưa cho xây các kim tự tháp nguy nga tráng lệ, nghĩ rằng sau khi chết sẽ sống trường cửu vĩnh hằng ở dưới nên chôn sống theo nhiều cung tần, mỹ nữ, hoàng hậu và những người được ông sủng ái. Sau này, người Trung Hoa cải biên làm thành hình nộm, hình giấy, tiền bạc cũng được đổi thành tiền giấy gọi là giấy vàng mã. Cho dù có cải biên nhưng hình ảnh bất nhân, nhẫn tâm chôn sống những người thân thuộc của mình là điều không nên.

Trong nghi thức lễ tang của Phật giáo thường cầu mong hương linh sớm được siêu sanh, thoát hóa, rũ bỏ cõi đời, không tiếc thân phận cùng gia tài, sự nghiệp, tình cảm để theo nghiệp tái sinh làm lại con người. Những phong tục tập quán đó không giúp ích gì cho người quá cố được siêu thoát, trái lại còn làm cho họ nặng lòng, khó siêu sinh. Thực tế có người bảo thấy người thân về báo mộng, dặn dò phải cúng giấy tiền vàng mã cho họ bớt lạnh lẽo, để họ có tiền mãi lộ các quan dưới âm cung; bằng không đời sống của họ rất khốn khổ. Điều này hoàn toàn do tưởng tượng, người còn sống có thói quen mê tín dị đoan thì khi chết nếu chưa siêu, họ bị tình trạng mê tín dị đoan y hệt như thế. Dĩ nhiên, khi ta bày biện các phẩm vật, hương hoa, giấy tiền vàng mã đốt cúng vẫn có giá trị về mặt tâm lý. Người chưa siêu khi nhìn thấy như thế họ cảm thấy vui, điều đó thể hiện sự quan tâm và tình thương của người sống dành cho người quá cố.

Đạo Phật dạy hãy thể hiện điều này bằng cách thức khác, nghệ thuật hơn để người chết không bị vướng trong cảnh giới ngạ quỷ, người sống không tạo nghiệp tiêu phí tài sản, cho dù ta có cầu Thần tài gõ cửa cũng không thể nào có. Có tiền bạc mà không tiêu xài, không làm từ thiện, không giúp người, cứu đời thì về sau phải nhận hậu quả là của cải, gia tài bị thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn thiêu đốt sạch hoặc con cái trong gia đình làm tổn thất.

Thần tài Lưu Hải

Đây là hình ảnh chàng trai trẻ tuổi tay cầm sợi dây ngũ sắc có buộc cóc ba chân. Trên vai có sợi dây buộc theo những quả trứng đính kèm hàng loạt đồng tiền vàng. Văn hóa Trung Hoa xem cóc là biểu tượng của nguồn tài nguyên tiền bạc bởi trong chữ Hán có sự đồng âm dị từ, cóc có âm đọc là “thềm”, “thềm” và “tiền” lại được đọc cùng âm. Từ đó nó mang ý nghĩa phất lên, dẫn khởi niềm hy vọng về phát đạt.

Lưu Hải tương truyền là con của tể tướng Lương Thái Tổ, triều đại Lương Thái Tổ năm 907- 926. Sau khi từ quan, ông sống ẩn tu và được Lữ Đồng Tân -một trong tám vị tiên truyền bí pháp luyện vận hoàn trở thành thuốc đan linh trường sinh bất tử, cuối cùng ông thành công phương pháp luyện đơn. Khi thờ Thần tài Lưu Hải, người ta nghĩ đến yếu tố phúc lộc trường tồn vĩnh hằng.

Ba vị Thần tài mang ý nghĩa khác nhau dù ở thời đại nào. Con người ước muốn trong lĩnh vực kinh tế được thịnh vượng, trên cơ sở đó thiết lập niềm vui và hạnh phúc về phương diện vật chất. Ý niệm mơ ước giàu sang, phú quý của con người cần thiết và chính đáng, ta nên giữ lại. Cách thức thực hiện nên dựa vào thuyết nhân quả đạo đức của Phật giáo.

Quan niệm Thần tài được nắn bằng đất hoặc kim loại có thể ban cho con người tài lộc là niềm tin không có cơ sở khoa học và nhân quả. Quan niệm về vị Thần tài ban phước lộc cho con người chỉ là mơ ước đặt trên nền tảng của lòng tham mà theo đạo Phật, có ước muốn chân chính là tốt, không biết cách gieo nghiệp tương thích thì thất vọng, chán chường, chẳng có kết quả như mong đợi. Do đó nên hiểu nhân quả quyết định mọi thứ trên đời.

Thờ phượng Thần tài

Hình tượng và cách thờ phượng Thần tài được thiết kế bằng nhiều hình thức khác nhau. Tượng sang trọng thì người ta làm bằng vàng hoặc mạ vàng, màu sắc sáng đẹp tượng trưng cho tài lộc, trên tay ngài cầm thỏi vàng lớn.

Người ta thờ Thần tài ở phòng khách, phòng kinh doanh hay trên bàn làm việc. Theo phong thủy, khi đặt tượng Thần tài trong nhà, phải nhắm đến độ cao của tượng từ 76 đến 83cm, mặt của ngài phải quay về hướng cửa cái.

Phong thủy lý giải cách thức đặt như thế để Thần tài luôn trong tư thế sẵn sàng hít vượng khí từ bên ngoài, đem tiền và tạo thịnh vượng cho kinh tế tài chính của gia đình đó suốt cả năm. Chính điều đó, người ta quan niệm mua Thần tài với tư thế đứng để chủ động rút tiền từ ngoài vào nhà, trái lại thờ Thần tài với tư thế ngồi thì giàu sang không bằng. Ngoài ra, trong dân gian còn có suy nghĩ độc đáo hơn nếu thờ vị Thần tài nào được ăn cắp từ người khác thì giàu sang phú quý đến với mình nhiều hơn.

Thực ra, tiêu phí hay không đều do tâm của mỗi con người. Trên thực tế sự hưởng thụ của mắt lớn gấp nhiều lần so với bao tử, mắt ăn nhiều hơn bao tử. Người ta có thể bỏ ra mấy ngàn đô la để đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn của  mắt trước danh lam thắng cảnh nổi tiếng, ghé tiệm ăn để đáp ứng nhu cầu bao tử, chi phí đó chẳng tốn là bao cho dù họ có ăn nhiều gấp mấy đi chăng nữa.

Do đó con người muốn làm chủ việc ăn phải làm chủ mắt; muốn làm chủ tiêu xài cũng phải làm chủ mắt. Ngoài ra, tập tục dân gian có thói quen tặng, biếu tượng Thần tài vào dịp lễ Tết, mừng tân gia, thăng tiến trong công việc hoặc mong cho người tăng trưởng và thịnh vượng về tài lộc.

Bên cạnh đó, nhiều gia đình còn có tập tục kiêng kỵ không quét rác ra khỏi nhà trong ba ngày Tết. Quét thì phải từ nhà trên xuống nhà dưới, sau đó giữ rác lại ở xó nhà, không được phép đổ đi; lỡ đổ đi thì xem như cả năm đó tiền của trong gia đình thất thoát hết. Thực tế cho thấy trong các chùa vào ngày mồng một Tết, người ta phải quét rác hoặc dọn dẹp vệ sinh nhiều gấp mấy lần so với ngày thường. Trong những ngày Tết, quần chúng tụ hội về lễ chùa rất đông, không quét dọn sạch sẽ thì họ không đến. Chùa nào quét dọn nhiều thì quần chúng đến đông và cúng dường nhiều. Chỉ cần suy luận một tí, ta đủ nhận thấy rằng các quan niệm dân gian hoàn toàn không có cơ sở khoa học, thế mà người mê tín vẫn cứ tin nên đôi lúc trở nên ngớ ngẩn.

Thần tài chốn “đỏ đen”

Năm 2003, tôi đến tham quan sòng bạc lớn nhất ở Melbourne, Úc. Trong bốn lần thuyết giảng tại chùa Liên Hoa, Las Vegas, Mỹ cho khoảng gần một trăm Phật tử làm nghề chia bài, sau mỗi buổi giảng, các Phật tử dẫn tôi tham quan sòng bạc. Kiến trúc của sòng bạc từ cột, vòi nước cho đến những tia nước phun ra theo điệu nhạc đều có bố cục màu sắc ánh vàng. Chính điều này tạo cho người ta ảo giác, cảm giác ngày cũng như đêm với niềm tin, hy vọng mình may mắn có vàng bạc. Thâm nhập vào thế giới ấy, tôi thấy có nhiều người với cặp mắt trũng sâu vì mất ngủ, họ đã thua sạch, làm sao có thể yên lòng ngủ ngon giấc. Người thì ngả lưng tựa vào vách tường hay cột với tinh thần rũ rượi, không còn chút nhựa sống vì niềm hy vọng của họ đã tan thành mây khói.

Các Phật tử làm nghề chia bài cho biết, hầu hết những người đến chơi bài đều thua, vấn đề còn lại chỉ là tính thời gian sớm hay muộn. Vốn ít thì thua trước, vốn nhiều thì thua sau, người chủ có vốn nhiều quá nên họ mới làm giàu.

Người làm nghề chia bài nơi đây được huấn luyện nhiều kỹ năng để ăn tiền và thắng những người chơi bài thiếu kinh nghiệm. Họ được phân công làm theo ca, mỗi người chỉ làm tối đa trong hai giờ, sau đó họ nghỉ giải lao để người khác vào thay ca. Người chơi thì có thể ngồi suốt 24 giờ, 48 giờ hoặc thậm chí là nhiều ngày liên tục, dẫn đến tình trạng thần trí mê mờ, độ phán đoán không còn chuẩn xác, cộng với lòng tham muốn gỡ gạc. Cuối cùng, họ đã thua sạch, thiếu nợ, bế tắc và không còn sự lựa chọn nào hơn, họ đã chọn giải pháp tự tử. Điều đặc biệt ở những sòng bạc, người ta bày biện và thờ phượng nhiều tượng Thần tài, chúng ta biết có Thần tài nào phù hộ cho ai thực sự đâu.

Tì hươu: Tiền vào không ra

Một số sòng bạc của người Trung Hoa có tập tục thờ tì hươu. Tì hươu với cấu trúc miệng to, cổ rộng và đặc biệt không có hậu môn. Do đó nó tượng trưng cho những gì đầu tư vào bên trong được giữ nguyên, không hề bị thất thoát ra ngoài. Người ta cho rằng nó là biểu tượng của Thần tài, tiền bạc vào như biển cả mà ra chỉ như giọt nước.

Đức Phật đưa ra hình ảnh sánh ví khá ấn tượng về bản chất của những người keo kiệt, bủn xỉn mỗi khi chia sẻ sở hữu của mình cho những người khác dù đó là người thân, thậm chí là cha mẹ, vợ chồng hoặc con cái; họ như đang bị dao bén cắt từng thớ thịt, làn da làm đau nhói và nuối tiếc khôn nguôi.

Trong Kinh Thiện Sanh, đức Phật dạy vào những ngày lễ lớn, sinh nhật, tình huống đau ốm, bệnh tật của công nhân cần có quan tâm thích đáng từ người chủ doanh nghiệp như chúc mừng, thăm hỏi, động viên, tặng quà, hỗ trợ về tinh thần giúp họ vượt qua cơn khốn khó cũng như thể hiện sự quan tâm, chia sẻ trong tình thân và tình thương.

Làm được như thế, công nhân sẽ có tâm trung thành, xem tài sản người chủ như là chính mình. Họ làm bằng cả trái tim nhiệt huyết, trách nhiệm và tận tụy, hết việc chứ không hết giờ; thậm chí họ có thể tăng ca thêm ngoài giờ. Những gì phát xuất từ tâm thương yêu, hiểu biết, chia sẻ, cảm thông và giúp đỡ lẫn nhau sẽ là nhịp cầu bền vững cho tất cả các mối quan hệ, giữa chủ và thợ không còn là sòng phẳng “Tiền trao cháo múc”.

Đức Phật từng dạy cư sĩ mỗi tháng nên chia khoản tiền lương của mình thành bốn phần, 25% chi cho việc từ thiện, 25% chi cho việc hiếu thảo, 25% chi tiêu hằng ngày, và 25% còn lại bỏ ống heo hoặc gởi tiết kiệm ngân hàng để có thể sử dụng về sau. Đó là cách làm chủ nguồn tài chính gia đình, để đồng tiền có thể xoay vòng từ cái này tạo ra cái khác. Khi chi tiêu cho việc nghĩa, giúp đỡ ông bà, cha mẹ, người thân, làm công tác từ thiện xã hội cũng đồng nghĩa với việc ta mang tài lộc và tình thương đến cho người khác. Tiền tạo ra tiền thông qua đầu tư kinh tế chân chính thì phước sẽ tạo phước. Khư khư giữ tiền trong nhà thì sau thời gian tiền bị mất giá hoặc dùng tiền mua vàng, đô la đầu cơ tích trữ, trong thời điểm kinh tế khủng hoảng toàn cầu, giá cả trên thị trường trồi sụt không ổn định, dễ làm nhiều người đứng tim cũng không phải là giải pháp hiệu quả.

Mỗi người là sứ giả Thần tài

Qua hình ảnh ba vị Thần tài, nhiều người đặt câu hỏi nếu ta nuôi ý tưởng mong cho mình giàu sang, phú quý, như vậy cần phải nuôi Thần tài bằng thực phẩm gì? Câu trả lời từ kinh điển của đạo Phật là bằng thực phẩm phước báu, tâm tùy hỷ và động cơ tốt.

Truyền thống Phật giáo Đại thừa có các vị Bồ-tát như Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Địa Tạng, Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi… mỗi vị đều biểu hiện đức tính cao quý mà con người cần có để sống ý nghĩa hơn. Bồ-tát Quán Thế Âm mang hạnh nguyện lắng nghe nỗi khổ niềm đau của con người. Chúng ta với tư cách là vợ đối với chồng, cha mẹ đối với con cái, anh chị em đối với nhau đều thực tập tâm biết lắng nghe giống Bồ-tát Quán Thế Âm thì sẽ vơi bớt trách móc, giận hờn, quy trách nhiệm, đổ lỗi; ngược lại biết yêu thương, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau để cùng vượt qua khổ đau, hưởng an vui và hạnh phúc.

Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi mang hạnh nguyện trí tuệ vĩ đại. Tiềm năng trí tuệ này vốn sẵn có trong mỗi con người.  Muốn khai thác và sử dụng trí tuệ đó, trước hết con người cần giải trừ mê tín dị đoan, không tin vào những điều vớ vẩn và không có cơ sở khoa học. Ta chỉ cần nỗ lực chân chính bằng sức lao động, bàn tay, khối óc phù hợp luật pháp và đạo đức thì được xem là người có kiến thức về nhân quả; nói theo ngôn ngữ khoa học đó là người có trí tuệ.

Tương tự, thay vì thỉnh tượng Thần tài về thờ, mỗi ngày cầu nguyện gia hộ cho ta mua may bán đắt, thành tựu sự nghiệp thì ta hãy trở thành Thần tài sống biết đem tài lộc đến cho người khác, giúp đỡ cuộc đời và con người vượt qua khổ đau qua các hoạt động chia sẻ trong công tác từ thiện xã hội. Mỗi hoạt động từ thiện xã hội là điều kiện tương đối giúp ta trở thành Thần tài. Việc từ thiện có thể bằng nhiều cách thức khác nhau, hoặc tài thí hoặc pháp thí.

Pháp thí là việc phát tâm ấn tống kinh điển, sách, băng đĩa giảng tặng biếu đến các đối tượng chưa biết hoặc đang tìm hiểu về đạo Phật, người nghèo ở vùng sâu, vùng xa để họ có cơ hội hiểu và đến với đạo Phật một cách có phương pháp, tri thức và đúng đắn. Làm được như thế là chúng ta đang thực hiện sứ mệnh của  Thần tài trí tuệ trong sự hợp tác, hỗ trợ, phổ biến chân lý của đạo Phật, mang trí tuệ đến cho mọi người.

Tài thí là việc chia sẻ sở hữu về tiền bạc, phương tiện và tiện nghi của đời sống vật chất. Nước Việt Nam hiện có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với nhiều quốc gia trong khu vực nhưng vẫn còn là một trong những nước nghèo và lạc hậu nhất thế giới. Chính vì thế, đi đến đâu cũng có đối tượng để ta đóng vai trò Thần tài, mang tiền bạc đến chia sẻ, giúp đỡ cho những người nghèo khổ.

Trong 63 tỉnh thành của đất nước Việt Nam, mỗi tỉnh có ít nhất một trại tù, viện mồ côi, trại dưỡng lão, trung tâm người khuyết tật, trung tâm cai nghiện, trung tâm bảo trợ xã hội và phục hồi nhân phẩm phụ nữ v.v… Chỉ cần chúng ta có tấm lòng, bằng cách chia sẻ những chi tiêu không cần thiết của mình trong một ngày hay một tháng là có thể giúp đỡ cho biết bao cảnh đời khốn khổ.

Mỗi bữa ăn sáng, thay vì chúng ta thưởng thức tô phở hảo hạng trị giá ba mươi ngàn đồng, ta có thể cắt xén bớt, dùng tô phở bình dân hơn chỉ với giá mười lăm ngàn đồng. Như vậy ta có thể tiết kiệm nửa số tiền để sử dụng vào những việc có ích nếu khéo biết cách vun vén, chi tiêu và dành dụm. Sau mỗi buổi đi chợ, còn dư lại ít đồng tiền lẻ, quý vị hãy bỏ vào ống heo. Một năm sau khi mở ra, chắc chắn ta sẽ có khoản tiền không nhỏ để có thể đến thăm và giúp đỡ cho người già neo đơn, trẻ em mồ côi bất hạnh, người khuyết tật v.v…

Làm được như vậy, chúng ta đang trở thành Thần tài vật chất vì những việc làm, hành động hết sức cụ thể và thiết thực. Bên cạnh đó, theo đức Phật dạy, chúng ta cần thực tập thói quen không tiếc nuối về những việc đã làm hoặc đóng góp.

Thiên tài và chánh tài

Người Trung Hoa có quan niệm về hai loại tài sản, đó là thiên tài và chánh tài. Thiên tài là loại tài sản không do chính mình tạo ra, có một cách ngẫu nhiên, tình cờ, không có chánh ngạch và chánh luồng; thường được gọi là tài sản may mắn. Chẳng hạn tài sản có được từ các chương trình bốc thăm trúng thưởng, chương trình khuyến mãi, trúng vé số v.v…đó là Thần tài đang gõ cửa đến mình, hoặc dân gian cho rằng đây là hiện tượng trời ban tặng. Thực ra, chẳng có trời nào ban tặng ta, do phước báu của chúng ta gieo trồng từ nhiều đời kiếp và  đến hôm nay trổ quả.

Muốn được Thần tài gõ cửa thì chúng ta nỗ lực tạo dựng phước báu cho mình bằng nhiều công đức khác nhau, đây  chính là một trong ba yếu tố giúp hành giả Tịnh Độ tông có thể phát nguyện vãng sanh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Hai yếu tố còn lại là căn lành nhiều, nghĩa là phát triển đức tính không tham-sân-si;  yếu tố thứ ba là nhân duyên tốt nhiều, nghĩa là tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để những đầu tư của ta có kết quả thiết thực, không dựa trên những mơ tưởng ảo huyền bằng niềm tin mê tín sai lầm.

Chánh tài là tài sản có được từ nghề nghiệp chân chính như lương bổng, kinh doanh hoặc công việc đầu tư làm ăn tạo ra mà đạo Phật gọi đó là chánh mạng và chánh nghiệp, tức là nghề nghiệp chân chính phù hợp với luật pháp và đạo đức. Đây chính là yếu tố quan trọng dẫn dắt con người đi đến cửa ngõ tài nguyên của Thần tài.

Tóm lại, người tu học và làm đệ tử Phật cần biến mình trở thành Thần tài bằng nhận thức chân chính đó là việc gieo phúc, tạo lộc cho người khác; hãy đến từng nơi, gõ cửa từng nhà để tặng biếu phước báu, công đức bằng sự phát tâm và thực hiện bằng cả tấm lòng. Về sau, theo tiến trình nhân quả báo ứng sẽ tự động diễn ra, dù có hay không cầu nguyện ta cũng đạt kết quả như ý muốn. Hy vọng rằng mỗi người trong chúng ta sẽ là Thần tài gõ cửa những người bất hạnh, biết đem phước lộc, hạnh phúc và bình an đến những mảnh đời cơ nhỡ. Việc làm thiết thực này giúp ta trở thành các vị Thần tài thiết thực trong cuộc sống.