Thực Hành Tâm Bố Thí

Thầy chào tất cả quý thiện hữu!

Bài thứ nhất thầy lấy tên là Bát Nhã Chiếu Soi giúp quý vị hiểu rõ tâm bất sinh bất diệt và tâm sinh diệt, nhận được rõ con người thật và con người biến hoá có điều kiện, giúp quý vị đi thẳng vào Tâm Chân Như, đi thẳng vào Đạo Tâm bằng con đường quán chiếu và dùng nhận thức để nhận biết, khám phá các trạng thái của tâm mà trong đó đã bao gồm cả trạng thái Thanh Tịnh hay trạng thái Định, trạng thái Chân Như, trạng thái Bát Nhã.

Hôm nay, thầy giảng bài pháp thứ hai trong 12 bài pháp Khai Mở Đạo Tâm. Bài pháp này thầy tạm đặt tên là Thực HànhTâm Bố Thí và là một cách khác để hướng dẫn quý vị đi vào trạng thái Tâm Chân Như. Bài này thầy đã giảng một đoạn trước, hôm nay thầy nói lại và thêm một số điểm mới. Đối với những người có suy nghĩ, sống cuộc sống bình thường, tức là sống cho riêng chính mình chứ chưa cần cho tha nhân thì bài pháp này cũng như những bài pháp sắp tới xuất phát từ chính quyền lợi cá nhân của mỗi người. Bố thí cũng vì quyền lợi cá nhân của bản thân trước. Khi đề cập tới việc giảng hay học pháp, người ta thường liên tưởng đến việc học và làm việc đạo đức, việc giúp và cứu người. Đôi khi người học không được thoải mái vì có những người không nghĩ như vậy và cảm thấy ngay bản thân chưa có gì, chưa được gì thì làm sao giúp được người nên tốt nhất cứ nghĩ vì quyền lợi của bản thân trước.

Người Kitô giáo thường hay nói câu trong kinh Thánh dạy: “Ai đánh má bên phải thì đưa má bên trái cho họ đánh luôn. Ai xin cái áo bên ngoài thì cho họ luôn cái áo bên trong.” Khi làm như vậy cũng chưa hẳn vì không có tính hơn thua với người hay vì thương người. Theo đa số thì việc không đánh lại người có thể vì không đánh hơn được nên cho họ đánh thêm cái nữa để họ hài lòng và bỏ đi cho bản thân được an toàn dù có phải chịu bầm hai bên má và cảm thấy xấu hổ. Nếu không đánh hơn được người ta mà cố đánh lại tất nhiên khó giữ được an toàn nên cư xử bằng cách đó chắc chắn an toàn hơn.

Phát triển bố thí, trước nhất là vì quyền lợi của hành giả. Người thực sự trưởng thành và có một sự nghiệp đáng tự hào chỉ khi người đó có được tâm rộng mở, có được tầm nhìn xa, sự hiểu biết rộng rãi, có lòng thương yêu, thông cảm, vị tha lớn. Bởi vì, người đó thường phát sinh những trí tuệ rất đặc biệt giúp họ được bình yên và đem lại sự an lạc, hạnh phúc cho người khác. Ngày nay ai cũng thấy, vai trò của tâm, vai trò của trí tuệ là vai trò chính yếu trong đời sống con người. Vai trò này phát triển rộng rãi mà không bị mất đi, không ai có thể chiếm giữ, hay tước đoạt, trộm cắp được, không ai làm gì được cả vì tính vững bền của nó. Muốn có được sự nghiệp tinh thần sẽ đem lại vật chất tương ứng thì tâm cần phải có được cơ hội chấn động để làm rạn nứt, sụp đổ sự ích kỉ nhỏ nhen nên phải thường thực hành sự bố thí.

Có nhiều người đọc một vài cuốn kinh, sách, học một vài khoá học và cứ thế nói rồi cho rằng đã thực hành bố thí pháp nhưng lại kèm theo ý nghĩ, bố thí pháp là sẽ được phước báu lớn lắm. Bố thí được phước báu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào cái tâm lớn hay nhỏ. Ai đó có thể đi bố thí pháp nhiều giờ trong ngày nhưng hễ người khác đụng chạm tới là kèn cựa, so đo, tính toán, nổi nóng, cho mình là đúng, là hay hơn cả còn người khác sai…nói pháp rất hay nhưng người nghèo khổ xin vài đồng bạc thì nhất định không cho, dùng cách này cách khác để biện bạch, né tránh việc giúp đỡ người khác bằng tài vật dù bản thân có đủ hoặc thừa khả năng.

Do đó, cần phải hiểu và thực hành bố thí bằng cách, cái gì khó bỏ ra nhất, khó đem cho nhất đối với bản thân thì đem bố thí. Dám bỏ, dám cho cái khó bỏ, khó cho nhất cả về mặt tinh thần lẫn vật chất mới thực sự là bố thí.

Ví dụ bố thí thứ nhất về mặt tinh thần: Nếu tự thân cho rằng mình đúng còn người khác sai thì có dám bỏ điều đó đi không? Chưa chắc! Chính vì luôn luôn cho rằng bản thân đúng nên điều này trói chặt cái tâm thành cứng ngắc. Ý tưởng luôn cho rằng bản thân đúng đó biến thành nhà tù nhốt kín, chôn chặt cái tâm nhưng người ta không thấy. Ý tưởng này đích thực là nhà tù và gây ra sự bực bội trong tâm. Tại sao thấy bản thân đúng mà còn cứ bực tức mãi thế? Ngược lại, nếu không vì và ra sức bảo vệ ý tưởng này thì không bực tức. Tâm không cảm thấy khó chịu, không cảm thấy bực tức và lúc nào cũng thấy vừa lòng, lúc nào cũng dễ chịu chính là trạng thái tâm rộng mở. Sự dễ chịu, vừa lòng là một hình thức khuếch đại của trạng thái tâm rộng mở, là một bản chất của tâm đã rộng mở.

Ví dụ bố thí thứ hai về mặt tinh thần: Con người có dám từ bỏ sự ham muốn đi không? Ham muốn đủ thứ trên đời nhưng có khi nào dám từ bỏ nó không? Không dám và rất khó bỏ. Trong khi đó, ham muốn chỉ là thể tính vô hình, không giống như các thứ tài sản vật chất hữu hình khác nhưng bỏ nó lại không được, có khi bỏ một toà nhà to lớn, một chiếc xe hơi lộng lẫy… thậm chí, bỏ vợ hay chồng hoặc con cái còn bỏ được dễ dàng hơn từ bỏ sự ham muốn. Vì không bỏ ham muốn được nên chấp nhận bỏ chồng hoặc vợ để chạy theo ham muốn được sống với người tình. Điều thấy rất rõ ràng là, con người sẵn sàng bỏ tất cả để chạy theo ham muốn chứ không phải dễ gì bỏ được ham muốn. Đừng chủ quan trong việc từ bỏ ham muốn.

Cũng có những việc khó làm về mặt tinh thần như, khi gặp người khác khó có thể tự động chào thân thiện, nở nụ cười vui vẻ, thoải mái vì cho rằng bản thân quan trọng nên mặt mũi cứ gằm gằm suốt ngày. Người khác phải chào, cười trước thì mới chào, cười lại. Chào, cười hay ứng xử như thế nào đó để vừa lòng với người khác cũng phải có điều kiện mới thực hiện. Như vậy là chưa thực hiện được tinh thần bố thí, không xả được. Không biết dùng từ ngữ gì để miêu tả vì chữ nghĩa thật khó có từ đề cập hết được vấn đề nên phải mượn từ bố thì để chỉ một hành vi, việc làm mang tính chất xả bỏ và làm cho cái tâm loãng ra, trở nên nhu huyễn, linh hoạt hơn. Do đó, về mặt tình thần có nhiều vấn đề cần phải xả bỏ.

Xả bỏ sự hơn thua cũng chưa chắc đã được. Người khác tới đâu thì bản thân cũng phải theo tới đó, không hơn được thì cũng không chịu thua kém. Ý tưởng hơn thua hay tính chất hoặc ý niệm hơn thua mà con người theo đuổi cũng giống như ham muốn, trở thành địa ngục kìm hãm, giam nhốt con người, biến họ thành ngạ quỷ, thành súc sinh.

Nếu như về mặt vật chất mà không có để bố thí thì bố thí về mặt tinh thần, sống cởi mở với mọi người. Chẳng hạn, những người xung quanh đang buồn phiền, thất vọng, đau khổ thì tới thăm, nói chuyện, an ủi, động viên, phân tích, nâng đỡ họ về mặt tinh thần để tạo cho họ niềm tin yêu cuộc đời, vượt qua khó khăn và vươn lên trong cuộc sống. Tức là người ta đã ngã rồi nhưng mình không có phương tiện vật chất để kéo họ dậy thì dùng lời nói, sự an ủi, sẻ chia, vỗ về và dùng tình thương đỡ họ lên để họ tiếp tục bước đi mà tâm không chấp người đó là ai hoặc dù là kẻ thù đi chăng nữa cũng vẫn thực hiện, đấy cũng là một hành vi bố thí.

Về mặt vật chất cũng sẵn lòng giúp người khác, điều kiện giúp được gì thì cứ giúp. Nhưng cái gì khó cho, khó bỏ nhất mà dám đem cho, đem bỏ thì tự nhiên tâm rộng mở ra. Đó là pháp tu hữu hiệu nhất. Chứ còn người ngồi thiền để được chùa to, nhà lớn, xe hơi, người đẹp và nhiều người theo thì không thể nói là có trí tuệ và tâm rộng lớn được. Tức là thiền nhưng luôn nghĩ tới kết quả để và sẽ được những cái hữu hình thì làm sao tâm có thể rộng mở, làm sao có trí tuệ siêu việt, làm sao lòng từ bi, trí tuệ Phật, trí tuệ giải thoát… mở được, làm sao Tâm Chân Như hiển lộ được. Vì bởi ý niệm có điều kiện đó đã trói, nhốt chặt hay che kín Tâm Chân Như lại rồi, không có kẽ hở để Tâm Chân Như phóng ra ánh sáng.

Khi mới tập bố thí thì lúc cho đi thứ gì đó rất khó nhưng tập mãi sẽ quen. Thường thường khi cho một cái gì đó đều luôn có điều kiện hoặc cũng tính toán khi cho đi sẽ được lại gì, bỏ thứ này lấy thứ khác hay bỏ con tép bắt con tôm…vì nghĩ rằng nếu không tính toán là người ngu, người không có trí nhưng không phải vậy. Tính toán là một thói quen. Lúc nhỏ không biết tính toán cái gì cả nhưng càng dần lớn thì càng biết tính toán, lo thu vén vào cho bản thân. Tập cho đi mới khó chứ thu vén, vơ vét vào thì không cần tập vì bản tính con người tự động phát triển thứ thần thông tiêu cực này. Do đó, cho đi, xả bỏ là rất khó nên phải tập.

Có nhiều cách để tập, tập cho không có điều kiện, tập cúng dường không có điều kiện. Người ta khi cúng dường thường cầu để được phước báu, cúng dường một nhưng lại hy vọng, mong muốn được lại mười. Đem chút lễ vật lên chùa cúng để đổi được những chuyện lớn hơn gấp nhiều lần. Đó là cúng dường có điều kiện. Cho nên, phải tập cho đi, tập cúng dường mà không có điều kiện gì hết, cho là cho và cúng là cúng, vô điều kiện. Nếu muốn có điều kiện thì phải khôn ngoan, phải trí tuệ ở chỗ nên cúng dường giúp đỡ hoặc bố thí cho người có tâm vô tư thì phước báu lớn hơn. Nhưng tốt nhất là không nên có bất cứ điều kiện nào trong việc thực hành cúng dường hay bố thí.

Trong bài giảng này, thầy cũng chỉ đề cập đến vấn đề bố thí không có điều kiện gì cả. Bởi vì, cái được ở đây chính là tâm sẽ mở rộng ra và từ đó phóng ra nguồn năng lượng chiêu mộ những điềm lành. Tâm Chân Như hay Tâm Phật phóng ra nguồn năng lượng và sẽ bắt gặp được những nguồn năng lượng lành kia trong không gian xung quanh, do vậy, tạo ra một cuộc sống thoải mái, tạo ra những sự may mắn. Giá trị của cuộc sống thoải mái với nhiều điều may mắn là không gì có thể so sánh, đổi chác được. Khi tập bố thí không có điều kiện thì tâm trở nên vô tư, trong suốt, nguồn năng lượng của Tâm Chân Như phóng ra, câu thông được với những nguồn năng lượng lành bên ngoài và tạo ra cuộc sống bình yên, an lành, tạo ra những sự may mắn rất bất ngờ. Vì thế, cứ việc mạnh dạn cúng dường, bố thí không điều kiện để tâm luôn tính toán, tâm có điều kiện bị dừng lại và tạo ra kẽ hở để năng lượng của Tâm Chân Như có cơ hội phóng ra. Khi cúng dường hay bố thí một khoản tiền dù lớn nhưng không tính toán, không thấy tiếc nuối, đau xót, cứ thế bỏ số tiền ấy ra một cách bình thản, tự nhiên thì lúc đó tâm tính toán dừng lại và bị mất đi, một kẽ hở xuất hiện để từ trường, ánh sáng của Đạo Tâm được phóng ra giúp cho phát triển trí tuệ, tạo ra nhiều chấn động trong tâm và câu thông được với những năng lượng lành xung quanh làm cho cuộc sống được bình yên, an lạc. Bấy giờ cuộc sống sống bằng sự nhiệm mầu chứ không phải bằng những toan tính, mưu sự. Nghĩa là, cuộc sống không cần phải mưu tính gì mà vẫn thoải mái, việc gì cần thiết tự dưng sự nhiệm màu sẽ linh ứng và giúp đỡ.

Vừa rồi, thầy đề cập đến vấn đề tập bố thí, xả tâm không điều kiện. Bên cạnh đó, cần tập thêm sự thông cảm. Thông cảm với mọi người, đừng chỉ nhìn thấy lỗi lầm của họ. Khi người khác có lỗi gì thì tìm mọi cách, mọi lí do thông cảm với họ để tâm của bản thân và của người khác được nhẹ nhàng, yên ổn. Thông cảm cũng vì lợi ích của bản thân, bởi nếu không thông cảm sẽ thấy bực bội, khó chịu, gây ra bệnh hoạn… cho cả mình và người khác. Do đó, thông cảm để tốt cho bản thân và người khác.

Về việc phát ngôn thì tập nói những lời nhẹ nhàng, dễ chịu, dễ nghe, dùng những lời động viên, an ủi, khích lệ…trong cuộc sống. Làm sao để lời nói của bản thân giống như hoa trời rơi xuống để mở lòng chính mình và người khác ra. Làm sao để lời nói giống như một bảo pháp giải thoát và đem lại sự nhẹ nhàng, an tâm cho tâm hồn của mình và người nghe.

Trong giao tiếp và ứng xử cũng vậy. Tập cư xử thoải mái, làm cho người tiếp xúc thấy dễ chịu. Nhìn người bằng sự thiêng liêng của bản thân và thấy sự thiêng liêng của họ trong lúc cư xử. Nhìn bằng sự thiêng liêng của bản thân là nhìn bằng trạng thái Tâm Bát Nhã tức là tâm hồn nhiên, vô tư, tâm không có sự phân tích, đánh giá, phân biệt, không có thành kiến, đố kị…đấy là tâm linh thiêng, tâm màu nhiệm và hãy nhìn bằng sự màu nhiệm như vậy. Hãy nhìn vào sự linh thiêng và màu nhiệm của người khác chứ đừng nhìn vào những lầm lỗi, đừng thành kiến, phân tích, đánh giá những lỗi lầm của họ…Thực hiện được như vậy trong cư xử, giao tiếp thì sẽ đem lại nhiều lợi lạc lớn cả về tinh thần lẫn vật chất và tạo cơ hội cho tâm rộng mở.

Một vấn đề nữa là hãy tập cầu nguyện cho người khác. Thường thì con người rất ích kỉ nên có cầu nguyện cho người khác thì lại nguyện cho họ bị lụn bại, không bằng mình chứ ít người dám nguyện để người khác hơn hoặc bằng bản thân. Do đó phải tập. Đây là một hành vi bố thí rất độc đáo, rất khó khăn chứ không phải đơn giản, bình thường. Hành vi này sẽ giúp cho sự ích kỉ bị tan dần, nguồn gốc hay các chất liệu nuôi dưỡng lòng ích kỉ sẽ cạn kiệt và tan dần. Nếu như không làm được gì cụ thể cho mọi người thì cứ cầu nguyện cho họ thật tốt, thật hơn bản thân, cho họ được hạnh phúc.

Nhưng phải coi chừng sự việc có thật này: Một lời cầu nguyện cho cả thế giới hòa bình, tất cả các loài chúng sinh được an lạc…có vẻ lời cầu nguyện đó thật tốt, thật vĩ đại nhưng nó hoàn toàn không khó khăn vì lời cầu nguyện gần như vô thưởng vô phạt, không liên quan, không ảnh hưởng gì tới bản thân người cầu nguyện. Trái lại, một lời cầu nguyện tốt lành, hơn hẳn mình cho những người hàng xóm, đồng nghiệp hoặc những người bị bản thân coi là kẻ thù và sinh lòng đố kị, ghen tị… mới thực sự khó khăn. Lời cầu nguyện không đụng chạm tới quyền lợi cá nhân và không xuất phát từ lòng đại từ bi, từ tâm vô nhiễm, tâm vô điều kiện thì chỉ giống như một con vẹt thôi, và hễ lời cầu nguyện bất kì mà có đụng chạm tới quyền lợi của bản thân thì tự nhiên không dám. Bởi hầu hết con người, kể cả những người đang đi theo con đường xả bỏ mọi hưởng thụ đời thường để tu hành đều mắc chứng bệnh nan y khó trị là bệnh ích kỉ và ghen tị. Tự dưng cầu nguyện cho một người hơn hẳn bản thân còn mình thì không được gì, không có gì hết mới thật sự khó khăn chứ không phải dễ nên phải tập. Tâm ích kỉ và lòng ghen tị đích xác là một nhà tù kiên cố và đích thị là địa ngục có tới chín tầng cửa nhốt chặt, không cho con người thoát ra để sống đời tự do.

Thầy đã trao đổi với tất cả quý thiện hữu phần lợi ích của việc bố thí cũng như cách tập bố thí, tập xả tâm để được lợi lạc cho mình và cho người. Quý vị đã hiểu được rồi, vấn đề còn lại là thực hành, cố gắng thực hiện bằng được.

Thực hiện một cách đơn giản nhất là cầu nguyện cho người đồng nghiệp, người bên cạnh được hơn hẳn bản thân về tất cả các mặt tích cực. Nếu là một tu sĩ thì cầu nguyện cho những tu sĩ khác nổi tiếng hơn, chùa to lớn hơn, đệ tử đông hơn… bản thân. Nếu là thương nhân thì cầu nguyện cho đối tác làm ăn hơn hẳn bản thân. Nếu là một người giàu có thì cầu nguyện cho người khác giàu có hơn mình…Nếu là người nghèo thì cầu nguyện cho người khác giàu có, sung túc và đừng bị khó khăn, nghèo khổ như mình…Nếu những người đang gặp khó khăn, khốn khổ khác mà trở nên khá giả hơn bản thân được thì sẵn sàng đánh đổi cả cuộc đời của mình, nên tập cầu nguyện như vậy. Ví dụ, bản thân không có gì hết ngoài một căn nhà và mảnh vườn nhỏ nhưng sẵn sàng cầu nguyện cho cả làng ấy, tất cả những người có hoàn cảnh khốn khổ như vậy được tất thảy các đấng thiêng liêng hộ trì, giúp đỡ vượt qua sự thống khổ ấy, có được cuộc sống sung túc, đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần và sẵn lòng xin đổi cuộc đời của mình cho điều cầu nguyện ấy thành sự thực.

Khi thực hiện được lời cầu nguyện như vậy thì tâm sẽ mở dần nhờ kẽ hở và sự tan rã dần của tâm ích kỉ, tị hiềm. Nhờ đó, ánh sáng của Tâm Chân Như lộ ra dần và sẽ cho thấy con người thật của mỗi người chính là Tâm Chân Như chứ không phải con người ích kỉ kia. Con người ích kỉ là con người của thói quen vơ vét về cho bản thân, quen chê người này, ghét người khác…chỉ biết lo thu về thật nhiều cho bản thân. Thói quen này tự động được huân tập và tích tụ dần từ nhỏ đến lớn và trở thành thói quen khó từ bỏ nổi nên thấy sự ích kỉ là hợp lí và đồng hóa bản thân với bản tính ích kỉ. Do vậy, tính ích kỉ cứ tồn tại mãi, địa ngục chín tầng ấy cứ tồn tại mãi trong tâm hồn con người bởi vì con người thỏa hiệp, đồng ý, đồng lõa với nó mà chưa thấy sự nguy hiểm của nó, chưa thấy con người thật chính là Tâm Chân Như, chính là ánh sáng, sự hiểu biết và cái nhìn Chân Như.

Bài pháp này giúp quý vị đi vào Tâm Chân Như bằng con đường thực hành việc xả tâm để Tâm Chân Như có cơ hội hiển lộ cho quý vị thấy, khám phá được Tâm Chân Như và tâm ích kỉ bị tan rã. Khi tâm ích kỉ tan rã thì những thứ khác mang tính chất này cũng sẽ bị sụp đổ đồng loạt. Rồi từ đó sử dụng những kiến thức và kinh nghiệm của bản thân mà không chấp chúng là con người thật nữa. Tất cả những kiến thức, kinh nghiệm ứng xử là biến hóa của con người thật, của Tâm Chân Như trong các điều kiện, hoàn cảnh sống khác nhau. Được như vậy thì đích thực là một người sống tỉnh thức, đích thị là bậc giác ngộ. Giác ngộ không phải là thấy, khám phá được Tâm Chân Như rồi thì bắt người khác phải tôn kính, quỵ lụy, lạy lục…mà ngộ được Tâm Chân Như là thấy được mọi thứ rất rõ ràng, không bị lầm lẫn, sẽ sống rất đàng hoàng, chấm dứt sự ham muốn, mê lầm, khổ đau, sợ hãi, buồn đau…Tức là sẽ sống bình yên và chết cũng bình yên.

Bài này là một trong những pháp để đi vào, khám phá và sống được với Tâm Chân Như.

Chúc quý vị sớm đạt được kết quả trong việc thực hành pháp phát triển tính bố thí!


Nam Mô A Di Đà Phật!

Thuyết giảng: Đạo Sư Duy Tuệ.

Biên tập từ pháp âm của Đạo Sư:

BBT Web sites: http://duytue.com

menu