GĐPT Đức Tâm là một đơn vị truyền thống trực thuộc BHD GĐPT Gia Định, miền Quảng Đức sinh hoạt tại Diệu Giác Ni tự, Quận 2

Kỷ Yếu Tang Lể Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không

KỶ YẾU TANG LỄ NI TRƯỞNG THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG ——- TIỂU SỬ Ni trưởng THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG — o0o — – Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. – Ủy viên Thường trực Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế. – Trú trì chùa Hồng Ân – Huế.

KỶ YẾU

TANG LỄ NI TRƯỞNG THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG

——-

TIỂU SỬ

Ni trưởng THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG

— o0o —


– Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

– Ủy viên Thường trực Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế.

– Trú trì chùa Hồng Ân – Huế.


I. THÂN THẾ VÀ THIẾU THỜI

Ni trưởng thế danh Hồ thị Hạnh, húy thượng Trừng hạ Hảo, hiệu là Nhất Điểm Thanh, sinh năm 1905, là con gái út của quan Đông Các Đại học sĩ Hồ Đắc Trung và Bà Châu Thị Lương, người làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Xuất thân từ một danh gia vọng tộc, gặp buổi giao thời giữa hai nền văn hóc cũ và mới, nên từ tấm bé Sư đã được hấp thụ một nền giáo dục dung hòa cả hai truyền thống Đông Tây. Thân phụ muốn cho du học ở Pháp, nhưng Sư không đi. Chí hướng của Sư là khôi phục truyền thống Á Đông và nâng cao tinh thần phụ nữ. Bản hoài cao rộng đó thật khó mà thực hiện nếu không thoát ly đời sống gia đình nhỏ hẹp, bởi thế Sư đã nhiều lần xin cha mẹ xuất gia. Nhưng vào thập niên 1920, ở Huế chưa có chùa Ni, chỉ có các bà lớn tuổi mới được vào chùa Tăng làm dì vải nấu bếp. Sư lại là con gái út của một vị đại thần đương thời, được nâng niu như cành vàng lá ngọc, cha mẹ không bao giờ cho phép. Trước trở ngại lớn lao đó, Sư đành ở nhà cho trọn hiếu, chờ dịp thuận tiện. Song thân mong Người yên bề gia thất, cứ khuyến khích tham dự các tiệc tùng, dạ hội, nhưng Người một mực nuôi chí xuất trần. Thế rồi năm 23 tuổi (1928), vì cảm từ tâm của song thân, Người phát bi nguyện độ sinh, bằng lòng kết duyên với cụ Cao Xuân Xang để nuôi đàn con dại bơ vơ vừa mất mẹ. Thời gian không lâu ông qua đời. Từ đây duyên trần nhẹ gánh, Người vừa nuôi đàn con côi, vừa làm Phật sự đắc lực.


II. XUẤT GIA

Năm 1932 (27) tuổi, Sư được Hòa thượng Giác Tiên trụ trì Tổ đình Trúc Lâm truyền thập giới làm Sa di ni với pháp tự Diệu Không, nhưng vẫn đễ tóc để làm Phật sự. Lúc bấy giờ, Sư thường xuyên giao dịch với người Pháp trong chính quyền Bảo họ với tư cách đại diện hội An Nam Phật Học mà Sư là một sáng lập viên. Sau khi thọ thấp giới 12 năm, vào mùa thu năm Giáp Thân (1944), Sư được thọ tam đàn cụ túc tại đại giới đàn Thuyền Tôn do Hòa thượng Giác Nhiên đệ nhị Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Viện Nam Thống Nhất làm đàn đầu.

III. CÔNG HẠNH

Sau khi thọ giới Sa-di-ni, Sư bán tư trang và vay mượn thêm để xây cất Ni viện đầu tiên cho nữ giới có chỗ tu học, đó là Ni viện Diệu Đức. Sư còn góp phần sáng lập và trùng tu nhiều chùa Ni và tịnh viện khác tại Thừa Thiên Huế như Diệu Viên, Khải Ân, Hồng Ân, Kiều Đàm, Định Huệ, Đông Thuyền, Hồng Đức, Liên Trì, Liên Hoa; Bảo Thắng – Hội An, Bảo Quang – Đà Nẵng, Tịnh Nghiệm – Quảng Ngãi, Ni viện Diệu Quang – Nha Trang. Tại miền Nam, Sư là người góp công thành lập Ni trường đầu tiên ở Sa Đéc, Ni viện Từ Nghiêm, Dược Sư, Diệu Giác, Diệu Tràng, Diệu Pháp tại Hố Nai, Long Thành. Su còn góp công rất nhiều trong việc xây dựng viện Đại học Phật giáo đầu tiên của Việt Nam là Đại Học Vạn Hạnh, cùng với Hòa thượng Trí Thủ, Hòa thượng Minh Châu, Hòa thượng Nhất Hạnh và cư sĩ Ngô Trọng Anh … là những vị khai sáng đầu tiên. Ngoài ra, cơ sở Kiều Đàm tại đường Công Lý (ngày nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) cũng do Sư cổ động xây cất. Ngoài các cơ sở văn hóa và Chùa, Sư còn góp công đắc lực khai sáng cô nhi viện Tây Lộc Huế và các cô, ký nhi viện trên khắp thành thị thôn quê miền Trung từ 1964 trở đi. Năm 1952, Sư góp phần đắc lực trong việc sáng lập nhà in Liên Hoa để in kinh sách Phật giáo và nguyệ sang Liên Hoa, do Hòa thượng Đôn Hậu làm Chủ nhiệm, Hòa thượng Đức Tâm làm Chủ bút, Sư làm Quản lý và Biên tập viên, là tờ báo Phật giáo sống lâu nhất tại miền Trung. Ngoài công tác hội trì chánh pháp và làm từ thiện xã hội, Sư còn dịch thuật trước tác và cộng tác với nhiều tạp chí Phật giáo như Viên Âm, Giác Ngộ, Từ Quang, Liên Hoa… Các bộ kinh luận quan trọng do Sư dịch gồm có Thành duy thức luận, Du-già Sư địa luận, Lăng-già Tâm ấn, Di-lặc hạ sinh kinh, Đại trí độ luận, Trung quán luận lược giải (của Long Thụ Bồ Tát), Hiện thật luận (của Thái Hư đại sư) v.v… Ngoài ra, Sư còn sáng tác rất nhiều tập thơ văn khuyến tu và giáo dục phụ nữ, như câu chuyện đạo lý, v.v…

Mặc dù Phật sự đa đoan, Sư luôn luôn học hỏi, tham cứu kinh sách Đại Tiểu thừa, và thường nhập thất tham thiền tại chùa Khải Ân, núi Châu Ê. Tuy mang thân nữ, Sư gần như không có thói nhi nữ thường tình mà Phật thường thống trách. Nguyện của Sư là đời đời mang thân nữ để độ cho nữ giới và không cầu sinh Tịnh độ: “Nguyện Phật chứng minh muôn vạn kiếp, con xin lăn lóc cõi Ta Bà”. Có lẽ do hạnh nguyện ấy mà đến đâu Sư cũng được phụ nữ đoanh vây, già trẻ lớn bé đều yêu mến. Và cũng có lẽ nhờ Sư am hiểu nhân tình, tùy cơ giáo hóa, có biện tài vô ngại. Nhưng trên tất cả, chính nhờ tâm hồn Sư bao dung quảng đại, bình đẳng đối với người thân cũng như sơ, xa cũng như gần. Câu thơ Sư làm “lưới trời bao phủ một tình thương” đủ nói lên chính xác tâm hồn Sư vậy.

Mặc dù là vị hộ trì đắc lực cho chư Tăng tu học, mặc dù được đặc cách học chung với chư Tăng trong các lớp giảng đầu tiên tại Huế, Sư không vì vậy mà xao lãng Bát kỉnh pháp. Ngược lại, đối vớ ichư Tăng Sư luôn luôn kính nể, dù là một vị tỳ kheo tân thọ giới hay chỉ một chú tiểu, Sư cũng đối xử lễ độ và hết lòng nâng đỡ. Đối với Ni chúng, Sư là bạn của tất cả mọi người, ai gần Sư cũng kính mến như bậc Thầy do bởi bản tánh bình dị, uy nghi khả kính. Tính bình dị của Sư quả là một tấm gương cho Ni giới: xuất thân từ nơi phú quý, mà khi vào chùa, Sư đã sống một cuộc đời hoàn toàn buông xả, đối với bốn vật cần dùng là ẩm thực, y phục, sàng tòa và dược phẩm Sư không chú trọng, có gì tốt đẹp đều đem cúng dường bố thí. Trước khi ngọa bệnh, nơi thường trú của Sư tại chùa Hồng Ân chỉ là một gian nhà thấp u tối, nhưng Sư không hề quan tâm sửa chữa, vì tâm hồn Sư luôn luôn để vào những chương trình rộng lớn hộ trì Tam Bảo, phục vụ chúng sinh đương thời và mai hậu.


IV. NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG

Năm 1978 sau một cơn bệnh Sư đã tắt thở, được chư Tăng vây quanh tiếp dẫn. Nhưng khi thời kinh hộ niệm chấm dứt, Sư cô Bảo Châu đau đớn khóc thét lên, Sư bèn giật mình tỉnh dậy vì bi nguyện dộ sinh. Kể từ đấy, Sư thường dạy: “Khi đã thấy cảnh tịnh độ rồi thì tôi xem cảnh đời này toàn là giả”. Có lẽ nhờ thấy giả mà Sư kham nhẫn được mọi sự. Gần 5 năm già yếu ngọa bệnh, Sư luôn luôn hoan hỷ với mọi người, đón nhận sự săn sóc chu đáo của tất cả các đệ tử, sự chữa trị tận tình của các bác sỹ Tây y như thầy Hải Ấn, Bác sĩ Lê Văn Bách, và quý vị bác sĩ, y tá Bệnh viện Trung ương Huế; Đông y như Sư Tuệ Tâm và quý vị Y Bác sĩ tại Tuệ Tĩnh Đượng Diệu Đế v.v…

Mặc dù già bệnh, tinh thần Sư luôn minh mẫn cho đến giây phút cuối, mỗi khi ai có việc quan trọng đến thỉnh ý, Sư đều dạy những lời khuyên hết sức sáng suốt. Cách 2 tháng trước khi qua đời, Sư còn phát tâm cúng dường cơ sở Hồng Đức cho Giáo hội để sử dụng trong việc đào tạo Tăng tài.

Như một trái cây chín mùi, như đi cuộc hành trình đã đến đích, Sư an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 2 giờ khuya ngày 22 tháng 8 năm Đinh Sửu tức 23 tháng 9 năm 1997, hưởng thọ 93 tuổi đời với 53 hạ lạp

V. KẾT

Tóm lại, một đời Sư: Ở trong phú quý mà không vướng vinh hoa, học nhiều mà không sở tri chướng, làm thơ mà không là thi sĩ, viết lách mà không là văn nhân, nghiên cứu mà không là học giả, giúp đời mà không là chuyên gia xã hội … Thuyết pháp mà không là pháp sư; tọa thiền mà không là thiền sư, xây dựng nhiều chùa mà không trụ trì một ngôi nào cả, giữ giới mà không câu nệ, độ người mà không vướng mắc đệ tử. Ở cảnh động không mất thiền, cảnh tịnh không bỏ rơi chúng sinh. Cuộc đời hành đạo của Sư thật đa dạng mà không lưu dấu vết, vì cõi lòng Sư như hư không. Sự nghiệp vật chất Sư lưu lại đã nhiều, nhưng cái đáng nói hơn, cái đáng nói nhất, cái thâu tóm cả cuộc đời Sư – Tấm lòng vì pháp và thương tưởng hậu lai – thì lại càng khó tả. Cho nên, dù có nói bao nhiêu về Sư, chúng con vẫn thấy thiếu và có lỗi với Sư, bởi vì cái đáng nói nhất đã không có ngôn từ diễn đạt. Có lẽ hai chữ tôn hiệu của Sư, (thượng) Diệu (hạ) Không đã biểu trưng quá đủ cuộc đời Sư. Hay nếu dài lời hơn, thì chỉ một câu này: “Thật tế lý địa bất thọ nhất trần, vạn sự môn trung bất xả nhất pháp”.

Trước giờ tạm biệt bùi ngùi này, môn đồ hiếu quyến chúng con đầu thành đảnh lễ xin Sư đừng quên đại nguyện, sớm hội nhập Ta-bà để hoằng dương Chánh pháp, cứu độ chúng sinh.

NAM MÔ THUẬN TỊCH TỪ LÂM TẾ TÔNG

TỨ THẬP NHỊ THẾ TRÚC LÂM PHÁP PHÁI, HÚY

THƯỢNG TRỪNG HẠ HẢO HIỆU DIỆU KHÔNG ÂN SƯ

GIÁC LINH THÙY TỪ CHỨNG GIÁM.


PHẦN HAI – TANG LỄ

TƯỞNG NIỆM

NI TRƯỞNG DIỆU KHÔNG

Hòa thượng THÍCH THIỆN SIÊU

Trong những ngày đầu phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, năm 1933, khi còn là một cư sĩ tại gia, Ni trưởng đã cùng với các bậc Tôn túc, các hàng cư sĩ trí thức như bác sĩ Tâm Minh – Lê Đình Thám v.v… góp sức xây dựng, làm cho Phật giáo Thừa Thiên – Huế và các tỉnh miền Trung mỗi ngày một phát triển.

Là một người con trong dòng quý tộc, Ni trưởng đã ngộ lẽ vô thường, thế gian hư huyễn, nên đã phát nguyện xuất gia để thực hiện hạnh tu giải thoát, hoằng pháp lợi sinh. Đặc biệt, Ni trưởng đã hết sức chú trọng đến việc đào tạo Tăng tài, cho nên Ni trưởng đã đem hết vốn hiểu biết hiện có của mình để hướng dẫn giáo dục Ni chúng vững tiến trên con đường giải thoát. Ni trưởng đã cùng với Ni bộ Bắc tông mở nhiều lớp học, Ni viện Phật học để đào tạo Ni tài cho Ni bộ. Lúc còn sinh tiền Ni trưởng luôn luôn ước nguyện tại tỉnh Thừa Thiên – Huế có nhiều cơ sở Phật giáo hơn nữa để giáo dục Tăng ni. Ước nguyện đó hôm nay đã thành hiện thực. Riêng tại Thừa Thiên – Huế đã mở được Trường Cơ bản Phật học và nay lại thêm Học viện Phật giáo Việt Nam, trong đó ngay từ những ngày đầu thành lập, Ni trưởng đã đóng góp một cách tích cực từ tinh thần cho đến vật chất, trước sau một lòng vì đạo, trước sau một lòng vì sự tu học của Tăng ni hầu có nhiều Tăng ni đủ tài đức để gánh vác việc hoằng dương Chánh pháp, kế tục sự nghiệp của các tiền nhân. Lúc còn sinh tiền, khi chúng tôi vào thăm, Ni trưởng không giây phút nào là không nhắc nhở, khôngmong mỏi làm sao mở được trường này, mở được trường khác để cho Tăng ni có nơi tu học. Thưa Giác linh Ni Trưởng, sự mong mỏi đó hôm nay đã thành hiện thực, nhưng trong những năm tháng sau này vẫn còn tiếp tục cần sự hỗ trợ, sự khuyến khích, khích lệ của bao nhiêu vị thiện tâm đại trí mới có thể viên mãn. Ni trưởng là một vị trong các vị năng lực hộ đạo, giúp đỡ cho Học viện, cho Trường Cơ bản, thế mà nay Ni trưởng đã ra đi, làm cho Học viện và Trường Cơ bản chúng tôi mất đi một vị hộ pháp, một vị hỗ trợ tích cực.

Tuy nhiên, mặc dầu Ni trưởng đã ra đi, nhưng cái chí nguyện cao cả của Ni trưởng, chúng tôi tin chắc vẫn còn mãi và trong môn đồ Pháp quyến, Phật tử của Ni trưởng chắc cũng có nhiều vị noi theo, nhiều vị tiếp tục chí nguyện của Ni trưởng là ủng hộ để làm cho Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế và Trường Cơ bản Phật học Việt Nam tại tỉnh nhà mỗi ngày mỗi phát triển và thành tựu viên mãn, để có những vị Tăng ni đủ đức đủ tài kế tục sự nghiệp của các bậc tiền nhân.

Với sự ra đi của Ni trưởng trong giai đoạn này, đó là một sự mất mát lớn. Chúng tôi hết sức xúc động, nhưng không biết làm sao hơn vì luật vô thường hễ có sinh thì có tử. Nhưng sinh tử trong Chánh pháp, đi trong Chánh pháp như Ni trưởng, thực là một điều hết sức cao cả.

Vì vậy hôm nay, đối trước ngôi Tam bảo, chúng tôi đại diện cho Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, Trường Cơ bản Phật học tỉnh Thừa Thiên – Huế cùng toàn thể Tăng ni, chí thành đại vị Ni trưỏng đảnh lễ, cầu mong Giác linh Ni trưởng cao đăng Phật quốc.

Nam mô Tiếp dẫn Đạo sư A-di-đà Phật

LỜI CẢM NIỆM CỦA BAN TRỊ SỰ TỈNH HỘI PHẬT GIÁO THỪA THIÊN HUẾ

(Đọc trong Lễ Di quan Sư bà Thích Nữ Diệu Không)


NAM MÔ TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT

Kính Chơn linh Sư bà,

Hôm nay Ban Trị sự Tỉnh hội và Tăng Ni Phật tử Thừa Thiên Huế vô cùng thương tiếc, kính tiễn đưa Sư bà, vị ủy viên thường trực kính quý của Ban trị sự về xứ Phật.

Kính thưa Sư bà,

Thế là giờ ly biệt đã đến. Mới ngày nào còn nghe Sư bà bày tỏ mối quan tâm đến ngày Đại hội đại biểu kỳ iii của Phật giáo tỉnh nhà và ngày khai giảng khóa i Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế và bảo: “Nếu mỗi người đều phát tâm thì Phật sự nào cũng thành tựu”. Lời thiền còn đó, những tưởng Sư bà sẽ còn duyên nhìn thấy nét hân hoan của ngày tốt nghiệp khóa đầu Học viện và sự khởi sắc của Tỉnh hội vào đầu thiên niên kỷ thứ 3, nào ngờ đâu cơn vô thường lại đến giữa những ngày mưa gió se thắt.

Nhớ về xưa, nét ngọc mảnh mai, từ những năm thập kỷ 30, Sư bà đã tiên phong thành lập ni viện đầu tiên tại Huế, rồi các ni viện kế tiếp ở Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Nha Trang, Sài Gòn, Sa Đéc, rồi Hồng Ân, Kiều Đàm, Đông Thuyền … Những năm thập kỷ 60 Sư bà nhiệt tình đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Đại học Vạn Hạnh, các lớp học ni, rồi đến nay trường Cơ bản Phật học và Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế …

Suốt quãng đời xuất gia hành đạo, Sư bà đã không mệt mỏi tiếp độ ni đồ, lo dạy các ni sinh, kiêm lo các cô nhi, ký nhi viện và công tác từ thiện xã hội. Thật là:

“Chiêm ngưỡng hạnh tiền đức, lòng vời vợi thương đạo thương đời, ngày tháng hồng ân báo đáp.

Quán soi tâm hữu tình, trí miên man cứu nạn cứu khổ, sớm chiều đại nguyện lo toan”.

Hình ảnh của Sư bà đã gợi chúng tôi nhớ về hình ảnh Tôn Ni Đại Ái Đạo. Hỡi ôi!

Gương xưa còn đó, rướm gót chân đi, đảnh lễ vầng dương cầu diệu pháp.

Nếp cũ còn đây, giữ lòng tu lại, sách cần hội chúng phát bồ-đề.

Sinh tiền Sư bà luôn luôn tỏ nét tự tại mà khiêm cung, trí thức mà giản dị, quả là:

Tự tại hòa khiêm cung, khắp miền quê hương in bóng ngọc góp phần hưng chánh pháp,

Đa văn mà giảng dị, toàn viện học chúng tạc lời vàng hội ý chấn thiền phong.

Trước giờ vĩnh biệt này chỉ còn lại sự ngậm ngùi, nuối tiếc chúng tôi chỉ biết nói lên lời cảm niệm.

Vẫn biết: Hữu vi là vô thường, có sinh thì có diệt, có hợp thỉ có ly, cuộc sống bể dâu như mộng, như huyễn, tựa bào ảnh tợ ngưng sương, phải tinh tiến mà viễn ly.

Nhưng làm sao chúng tôi nén được niềm thương cảm!

Chúng sinh còn khổ lụy, có đến phải có đi, có vui ắt có khổ, cảnh đời vô thường, tợ mong manh như đèn treo trước gió, cần chuyên cứu khổ.

Chúng tôi rất xúc động, xúc động nhiều trước bao Phật sự Sư bà đã làm thành tựu. Sư bà ra đi đã yên phần tròn hạnh nguyện. Còn chúng tôi những người còn ở lại, sẽ tiếp tục nhẫn nại trước những khó khăn lớn nhỏ trong sự nghiệp hoằng hóa độ sinh. Quyết sẽ dựng cao Học viện Phật giáo và trường Cơ bản Phật học, sẽ bảo trì, phát triển các cô nhi, ký nhi viện, các lớp mẫu giáo tình thương, mong Chơn linh Sư bà chứng giám.

Kính thưa Sư bà, như một lời dạy trong Trung Luận mà Sư bà đã dịch:

“Không sinh cũng không diệt

Không thường cũng không đoạn

Không một cũng không khác

Không đến cũng không đi

Ngài dạy ấy nhân duyên

Khéo dập tắt hý luận

Con nay đảnh lễ Ngài

Bậc Đạo sư đệ nhất”.

Sư bà cứ thanh thản ra đi theo đường hạnh nguyện. Con đường của Tăng ni Phật tử cố đô mãi mãi vẫn là:

Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ,

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Nam Mô Trung Thiên Giáo Chủ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bái biệt Sư Bà.

ĐIẾU VĂN

CỦA NI BỘ THỪA THIÊN HUẾ

Trước giờ phút trang nghiêm hương trầm quyện tỏa, trước Kim quan Người, chúng tôi Ni bộ Thừa Thiên Huế xin được bộc bạch đôi lời tưởng niệm, mong Chơn linh Ni trưởng thùy từ chứng giám.

Kính Ni trưởng, vẫn biết sinh là ký tử là quy, cuộc đời là quán trọ, đến để rồi đi, con người là lữ khách. Cái gì đã có sinh phải có diệt, có tụ phải có tán cũng như nước chảy xuôi đi không bao giờ trờ lại, hoa tàn lá rụng là định luật tự nhiên, sự biến thiên của vũ trụ là như vậy. Nhưng chúng tôi nhữngngười còn lại đây đồng pháp lữ với Ni trưởng đã cùng nhau chung lo Phật sự tronglĩnh vực thượng cầu hạ hóa tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức từ thưở thanh xuân đến tóc trắng phủ đầu, làm sao khỏi bùi ngùi xúc động khi hồi tưởng lại công đức của Người.

Vì sứ mệnh hoằng dương chánh pháp, Ni trưởng đã đặt chân khắp mọi miền đất nước khai sáng nhiều ni tự, tiếp độ vô số ni lưu có nơi nương tựa học hỏi. Đặc biệt nhất là tại cố đô Huế; ni viện Diệu Đức là nơi Ni trưởng đã dày công sáng lập đóng góp nhiều vào công việc đào tạo cơ sở từ lúc ban sơ đến nay đã trở thành Trung tâm Ni bộ mà Ni chúng các nơi đều hướng về. Chúng tôi không bao giờ quên hình ảnh cố Đại lão Hòa thượng ni thượng Diệu Hạ Hương đã khai sơn và Ni trưởng là người có công sáng lập cũng như cố Ni trưởng tân viên tịch trú trì Diệu Đức đã tận tụy hy sinh cho hậu thế dù biết với hạnh hành xả, quý Ngài không bao giờ lưu ý.

Để hướng dẫn các Phật tử tại gia tu tập, Ni trưởng đã chỉ dạy mấy vần thơ:

Tu hành khó lắm chị em ơi

Thuyền nhỏ lênh đênh giữa biển khơi

Sóng nghiệp lao xao muôn lớp nước

Gió yêu thổi động bốn phương trời

Gặp cơn giông tố nên bình tĩnh

Cực lạc rồi ra sẽ thảnh thơi

Với Giáo hội, Ni trưởng đã đóng góp nhiều Phật sự đáng kể nhưng luôn luôn tôn trọng Đại Tăng với tinh thần Bát Kỉnh Thị Y. Trải qua bao biến cố thăng trầm gian lao trong thời pháp nạn nhưng chí Người như núi vững không lay, một lòng trung kiên quả cảm.

Chúng tôi vô cùng phục khi ôn lại quá trình hành đạo của Ni trưởng. Một quá trình không dấu vết vì cõi lòng người như hư không làm sao kể hết. Chúng tôi cứ tưởng Người sẽ mãi mãi của chúng tôi:

Cùng nhau lái con thuyền Ni chúng

Chung đôi vai gánh sứ mệnh hoằng dương

Nào ngờ đâu giờ tử ly đã điểm

Cảnh vĩnh biệt chia rồi

Lòng chúng tôi khó tả hết nỗi buồn

Dạ môn đệ khôn nguôi niềm tưởng nhớ

Than ôi!

Những tưởng rằng cây tùng bá mãi vươn vai cùng sông núi

Nào ngờ đâu giữa đường nhạn trắng lẻ đường bay

Ngôi nhà cao gãy một cột đớn đau thay

Trời đất lịm phút giây ngôi sao rụng.

Đễ tán dương công hạnh của Ni trưởng, Hòa thượng thượng Trí hạ Quang đã truy điếu Người bốn chữ ÁI ĐẠO DƯ HƯƠNG. Thật vậy, Người đúng là dư hương của Ngài Đại Áo Đạo. Đối với Người đến đây hạnh nguyện đã mãn, Phật sự tạm xong, Ni trưởng quyết tâm trở về cố hương nơi chơn thường tịch diệt để lại cho chúng tôi vô vàn thương tiếc. Sau đây tân cựu Ni học chúng tại Thừa Thiên Huế kính dâng Ni trưởng lời hoài niệm.

Kính lạy Chơn linh Ni trưởng,

Chúng con hàng hậu học trải bao thế hệ đã tụ tán nơi đây và trưởng thành khắp các tỉnh, từ thuở thiếu thời tại cố đô Huế đã được Ni trưởng ban cho chúng con tình mẹ; một tình thương bao la như nước lan tràn biển cả, như ánh sáng mặt trời không chiếu riêng ai.

Chúng con cứ ngỡ rằng Ni trưởng mãi là con thuyền không bao giờ cặp bến vì đàn con còn lênh đênh trong đại dương ngũ trược.

Nhưng hỡi ơi! sự bất hạnh vụt đến với chúng con, tin sét đánh ngang tai, Ni trưởng đã xả báo thân để riêng mình nhẹ bước, chúng con hết sức đau lòng nhưng đành bật lực trước định luật vô thường, biết vô thường nhưng giọt lệ vẫn tràn mi. Vâng lời Phật dạy chúng con cố gắng thay vì bi lụy là niềm giải thoát, biến đau thương thành dũng cảm, nhưng lòng chúng con vẫn quặn thắt trước sự mất mát lớn lao này. Biết kể sao cho hết công ơn Ni trưởng, nói sao cho vừa nỗi niềm thương tiếc của chúng con:

Chúng con nhớ lại Ni trưởng ngày xưa

Nơi thiền môn dựng bảng trường chiêu sinh tiếp chúng

Phòng học đơn sơ phên vách đất gió lộng

Từ bốn phương chiêu tập học ni

Một lòng học đạo từ bi

Đốt đèn mài mực chuyên cần bút nghiêng.

Núi rừng cảnh vật buồn tênh

Nắng sang mưu đọng bên hiên cỏ lồng

Sư về ra sức gắng công

Đắp trường lấp hố hoa trồng nhà xây

Mái trường nên dạng từ đây

Học ni tu học tháng ngày yên vui

Chúng con cứ nghĩ bánh xe cửu trụ vạn kiếp vần xoay

Đớn đau thay sự thế vô thường

Nghìn thu vĩnh biệt

Than ôi! Cây tùng đổ giữa đêm thu gió lộng

Đàn chim côi vỡ tổ xạc xào bay

Diệu Đức – Hồng Ân còn đó với tháng ngày

Mà hình bóng Người vĩnh biệt từ đây.

Kính lạy Ni trưởng, gần một thế kỷ trên trần thế, Ni trưởng đã tận tụy hy sinh cho Đạo pháp và riêng hàng hậu tấn chúng con hết nữa cuộc đời, cho đến lúc tuỏi già sức yếu mạng sống còn trong gang tấc vẫn cố gắng đem hết sức tàn hưởng ứng, và đóng góp vào công việc xây dựng cơ sở giáo dục tại tỉnh nhà để Tăng Ni sinh có thêm phương tiện tu học.

Chúng con thiết nghĩ Người đã sống xứng đáng, một cuộc sống tuyệt vời như vậy mà vẫn chưa quyên hạnh nguyện độ sinh trước ngày xả báo thân, thấy chúng con lo buồn Người đã gắng sức thều thào: “Khóc chi, tôi về tịnh độ một thời gian rồi còn trở lại hành Phật sự”. Ôi hạnh nguyện cao siêu quá, chúng con chỉ biết thành kính lạy Chơn linh Người.

Kính lạy Chơn linh Ni trưởng,

Trong giờ phút phân ly này và trước mắt chúng con đây các Tôn túc Ni tuổi già đã phủ, sức khỏe như đèn trước gió, e rồi các ngài lại lần lượt ra đi mà hậu tấn chúng con thì đức bạc tài sơ. Rồi đây ai hướng dẫn chúng con trên đường tu học. Trước bối cảnh này, nghĩ đến tương lai chúng con đã cảm thất bơ vơ làm sao khỏi thao thức tủi buồn, nhưng chúng con không vì nghĩ vậy mà lơ là Phật sự. Chúng con nguyện khắc phục khó khăn noi gương đại hạnh của Người, nghiêm trì giới luật tiến tu đạo nghiệp, mong khỏi phụ công ơn giáo dưỡng cao dày của Ni trưởng cũng như quý Tôn túc Ni hiện tại.

Kính bạch Ni trưởng, còn vài phút nữa thôi huyễn thân của Người sẽ được đưa vào Bảo tháp, toàn thể pháp hữu và học chúng ni bộ Thừa Thiên Huế thành kính nguyện cầu chư Phật tiếp độ Chơn linh Ni trưởng cao đăng Phật quốc.

Kính vĩnh biệt Ni trưởng.

NAM MÔ TRÚC LÂM PHÁP PHÁI TỨ THẬP NHỊ THẾ THƯỢNG TRỪNG HẠ HẢO HIỆU DIỆU KHÔNG TRƯỞNG LÃO NI TRƯỞNG

THÙY TỪ CHỨNG GIÁM

NS Diệu Tấn

ĐIẾU VĂN

CỦA MÔN ĐỒ PHÁP QUYẾN

Nam mô Lạc bang Giáo chủ Tiếp dẫn Đạo sư A di đà Phật

- Ngưỡng bạch Chư tôn Hòa thượng Chứng minh

- Kính bạch Chư Thượng tọa Đại đức Tăng Ni

- Kính thưa Quý vị quan khách

- Thưa toàn thể thiện nam tín nữ Phật tử

Trong giây phút mà khoảnh khắc sẽ đi vào thiên thu này, trước khi cung tiễn Kim quan nhập Bảo tháp – nơi an nghỉ cuối cùng trên trần thế của Tôn sư chúng con: Cố ni trưởng THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG.

Môn đồ pháp quyến chúng con thành kính đảnh lễ Chư tôn Hòa thượng, Chư Thượng tọa Đại đức Tăng Ni. Xin chân thành cảm tạ quý quan khách và toàn thể Phật tử. Quý Ngài và quý vị đã nghĩ đến đạo tình thắm thiết quang lâm Hồng Ân ni tự tiễn đưa ân sư chúng con vào cõi vô sinh bất diệt. Tình Linh sơn cốt nhục của quý Ngài và quý vị, chúng con nguyện khắc ghi tâm, đời đời tưởng nhớ.

Kính bạch quý Ngài,

Kính thưa quý vị.

Thuyền lục độ thung dung.

Pháp nhất thừa thấu triệt

Những tưởng bánh xe cử trụ, vạn kiếp vần xoay

Nào ngờ đâu, cơn lốc vô thường, ngàn năm vĩnh biệt!

Xin phép quý Ngài và quý vị cho chúng con được bộc bạch đôi lời dâng Chơn linh ân sư chúng con trong giây phút cuối cùng này.

Ngưỡng bạch Chơn linh Thầy!

Trời cuối thu, lá thu dìu dặt, mãn duyên cõi Ta bà, Thầy nhẹ bước ra đi, nơi Liên đài Thầy an nghỉ, chốn hồng trần đệ tử khóc đơn côi.

Nhớ năm xưa, Thầy mượn chiếc thân tứ đại giả hợp để làm thuyền chở mình, chở người qua bến giác, lấy đức tánh nhẫn nại siêng năng, từ hòa khiêm tốn của chính mình để sách tấn môn đồ đệ tử. Từ đạo hạnh sáng ngời ấy, chúng con trưởng thành và chắp cánh bay cao. Cuộc đời của Thầy khi ở trần thế hay trong chốn thiền môn đều là tấm gương về lòng hy sinh tận tụy, một sự hy sinh vô bờ bến ít ai có được. Sống trong lầu son của chốn vương tôn nương tử mà lòng mãi quặn thắt trước mỗi đau của kiếp người, để rồi từ đó, Thầy dấn bước lo toan và hoàn thành ý nghĩa của hai chữ nhân ái. Vào nơi cửa thiền, một lòng một dạ, mãi mãi thao thức trước thịnh suy thăng trầm của đạo, tâm hồn luôn gắn bó với đắt nước quê hương. Những vần thơ, những lời văn đậm đà đạo nghĩa mà Thầy để lại đã nói lên được điều đó, cuộc đời mãi tôn xưng!

Kính lạy Thầy,,

Riêng chị em chúng con từ khi cắt ái ly gia, theo Thầy học đạo, ngôi chùa Hồng Ân thân thương này là tổ ấm cưu mang chúng con trong những năm tháng sơ cơ học Phật. Và Thầy la bậc ân sư giáo dưỡng tác thành cho giới thân huệ mạng, dìu dắt chúng con từng bước trên nấc thang chánh pháp.

Mấy chục năm sống đầm ấm trong ngôi nhà Đạo, Thầy đùm bọc chúng con không những bằng đức độ của bậc Thầy mà còn bằng tình thương của người mẹ. Chị em chúng con nhờ nguồn sữa pháp ngọt ngào ấy mà trưởng thành trong cuộc sống và có được thiện căn hôm nay.

Chúng con lớn khôn, mỗi người đi một ngả. Có người ở lại quê hương, có người lên đường du hóa, đem giáo lý Phật đà mà Thầy dạy dỗ đi vào lòng cuộc đời phổ độ quần sinh, làm nhiệm vụ “Tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự”. Ở nơi xa xôi hoặc cạnh bên Thầy, chị em chúng con vẫn tâm niệm có một lần quy tụ về đây báo đáp công ơn. Nào ngờ đâu, ngày về đoàn tụ cũng chính là ngày vĩnh biệt chia xa. Thầy ra đi không trở lại nữa rồi. Phải chăng Thầy muốn tròn hạnh nguyện là người cho đi mà không nhận lại bao giờ ! …

Thầy ơi! Hồng Ân ni viện giờ đây cát đá ngậm ngùi, cỏ cây rơi lệ, đất trời cũng nhỏ giọt tiễn đưa. Biết bao giờ chúng con nhìn thấy được tôn dung, nghe lại câu pháp nhũ ấm lòng con trẻ.

Trăm năm cuộc thế nào khác đêm dài

Một phút vô thường còn đâu bóng chiếc.

Đó đây hiu quạnh, chốn rừng thiền tĩnh mịch, bóng hình hài huyễn ảnh lắng xa. Sau trước êm đềm, lan nhã vắng không, tiếng pháp nhũ thanh âm cách tuyệt. Đau xót nỗi từ đây bơ vơ chiều vắng lạnh, nào thiền sàng đâu nữa bậc cao minh!

Vẫn biết dòng đời là ảo mộng, kiếp phù sinh như sương gá đầu cành, nhưng ân sư nghĩa nặng, lá phải lìa cành khi phải lìa cành xa nhánh, làm sao khỏi bi ai trước cảnh vô thường bi cách.

Hồng Ân còn đây! Diệu Giác – Diệu Tràng còn kia! Rồi Kiều Đàm – Diệu Pháp ở miền Nam xa xôi còn in dấu chân phổ độ, mà phút chốc trở thành thấm lạnh giữa dòng đời sinh diệt.

Ân phú pháp làm sao trả đặng,

Nghĩa sư đồ chúng con biết tính sao đây?

Ngưỡng bạch Chơn linh Tôn sư!

Thầy vẫn thường dạy chúng con: “Sắc tướng vốn không, mượn huyễn cảnh độ người mê muội – Tử sinh nào có, nương thuyền từ vớt kẻ trầm luân”. Nhưng sao lòng chúng con vẫn quá đau xót ngậm ngùi trước giờ phút cung tiễn kim thân của Thầy nhập thể Liên đài. Xin thời gian dừng lại cho thầy trò đôi phút đoàn viên! Song, không còn nữa. Hành trang TÍN-HẠNH-NGUYỆN đã chuẩn bị đưa Chơn linh Thầy về cõi Lạc bang, chim Ca lăng Tần già đang thánh thót reo ngâm thánh hiệu Vô lượng thọ Phật, cảnh giới thất trùng la võng, thất trùng hàng thọ đang hiện ra muôn ngàn tia sáng của Đại hùng bửu điện xứ Phật. Con đường thượng phẩm thượng sinh chờ bước chân thầy về cõi Tây phương.

Mây đi ai biết bao giờ lại

Xa tắp chân trời dấu nhạn bay

Ánh lửa về đâu khi diêm tắt

Ai nghe tiếng vỗ một bàn tay?

Trong ý nghĩ thiền vị đó, chúng con kính cẩn tiễn đưa Thầy về cõi chân không, ngưỡng vọng thần thức sớm quay lại cõi Tà-bà cứu độ chúng sinh.

Toàn thể pháp quyến chúng con xin nguyện noi theo hạnh nguyện của thầy đi trọn con đường mà Thầy đã vạch, hướng dẫn đàn em thăng tiến trên đường đạo để không phụ lòng tin của Thầy giao phó.

Hồng Ân vẫn là đây!

Trăng vẫn mảnh trăng này!

Ngàn sau, ngàn sau nữa!

Lồng lộng giữa trời mây!

Nam Mô Lâm Tế Tôn Tứ Thập Nhị Thế Trúc Lâm Pháp phái, Sung Việt Nam Phật giáo Giáo Hội Trị sự Hội Đồng Ủy viên, Thừa Thiên Huế Tỉnh Giáo Hội Trị sự Ban Thường trực ủy viên, sáng lập Diệu Đức Ni viện Khai Kiến Hồng Ân Ni Tự Chủ húy thượng Trừng hạ Hảo hiệu Diệu Không Ni Trưởng Chơn Linh Tôn Sư Thùy Từ chứng giám.

Môn đồ pháp quyến đồng đảnh lễ

Thích nữ Bảo Nguyệt

NHẬT KÝ LỄ TANG

Được tin buồn, chúng tôi vội vã ra ga Sài Gòn về Huế với hi vọng kịp đảnh lễ tôn dung Thầy lần cuối. Đến ga Huế, trời mưa rỉ rả như khóc thay cho bao người từ đây mất đi một bậc minh sư, một chân thiện tri thức.

Khi cả bốn người chúng tôi vừa bước vào nơi tôn trí kim quan tại chùa Hồng Ân, thì kỳ lạ làm sao, trời đang mưa rỉ rả bỗng đổ ồn ào xuống một trận, hệt như thay chúng tôi mà òa khóc. Tôi không khóc nhưng cõi lòng tê tái. Đây là một chặn đường mà ai cũng phải đi qua và đau khổ hơn nữa, chứng kiến người thân của mình đi qua. Bởi có như vậy Phật mới ra đời để vì chúng sinh mà nói lên Pháp ngài đã chứng và cách chữa trị sinh tử.

Sau khi lễ kim quan và đứng lặng một hồi xong, tôi mới có dịp quan sát mọi người xung quanh. Tất cả đệ tử Thầy tôi và học trò của họ đều về đông đủ, nên tuy khách ni chưa đến mà chùa đã đông nghẹt cả người. Có vài người ở xa chưa về kịp thì người ta đã thắc mắc tại sao không về. Lại có người cũng đệ tử mà đi xa đã quá lâu, cả chùa quên bẵng mặt mày họ, khi nhắc tên mới moi óc để nhớ lại, đó là sư cô Quảng Trí. Cái tên nghe rất quen nhưng mặt thì thay đổi quá nhiều sau hơn bốn mươi năm gió bụi. Vô thường nên vô ngã là như vậy, giản dị quá chừng. Ta không nhận ra người và người cũng không nhận ra ta. Ai cũng chào nhau với câu nhủ thầm hay nói rõ: Sao già quá vậy? Mà không thấy vô thường vô ngã ngay trên chính bản thân mình.

Có điều đặc biệt là vắng bóng cư sĩ tại gia. Có lẽ vì Thầy tôi ngọa bệnh quá lâu, những năm sau này ít ai lui tới nhiều như trước. Không phải vì Thầy không còn hơi sức để tiếp chuyện, nhưng suốt những năm cuối đời, Người sống nhiều hơn với cảnh giới nội tâm. Chỉ khi nào gặp người đồng điệu thì Người mới phát ngôn rất vui vẻ. Người thường bảo tôi: “Nói chuyện vô duyên thì nói làm gì”. Mỗi khi có chư vị đại tăng đến thăm, Người thường ngồi thẳng dậy, bàn Phật sự không khác gì cách nay mấy mươi năm. Nhưng khi các ngài ra về, Người lại im lặng nằm thiếp, quay vào vách. Tôi nhớ mãi mùa an cư 1995, mới cách đây hai năm, tôi về chùa xin nhập chúng an cư ba tháng để được gần Thầy. Vâng lời Thầy, mỗi chiều tôi hướng dẫn các cô tân thọ giới và những điệu nhỏ trong chùa ngồi thiền, kinh hành và nghe Pháp. Mỗi chiều sau giờ công phu, chúng tôi lên Chánh điện gần chỗ Thầy nằm để lễ Phật, tĩnh tọa nữa tiếng rồi thiền hành quanh điện Quan Âm trước chùa ba vòng trước khi ngồi xuống nghe Pháp thoại giữa trời, bên cạnh những nấm mồ vô chủ sau lưng chùa. Mặc dù đang nằm thiêm thiếp Thầy đều rõ biết mọi việc diễn tiến xung quanh, nên vào giờ nghe Pháp Thầy đều cho các thị giả đang quạt hầu đi ra vườn nghe, để Thầy nằm một mình cũng được. Sư cô Diệu Ý thường túc trực bên Thầy có khi cũng hiện diện vào lúc nghe Pháp. Quý sư cô lớn trong chùa cũng tham dự buổi pháp thoại mỗi chiều. Thấy nhiệt tình học Pháp của ni chúng, tôi bèn dành riêng một thời để trùng tuyên Giới luật trước khi nói Pháp thoại với chúng nhỏ. Đặc biệt có một buổi chiều, khi chúng tôi đang trùng tuyên giới luật, Thầy thình lình xuất hiện trên chiếc ghế mây do hai thị giả khiên ra. Lúc đó, tim tôi chấn động mảnh liệt trước cảm ứng đạo giao nan tư nghì ấy. Vì chính lúc đó chúng tôi đang học những điểm khó trong giới Bồ tát về các loại tâm cao cấp như thập phát thú, thập trưởng dưỡng, thập kim cang tâm. Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu được làm sao Thầy biết chúng tôi đang học Bồ tát giới mà bảo thị giả khiêng ra chứng minh buổi học như thế. Phải chăng động đến giới Bồ tát là động đến tim của Người nên dù đang nằm thiêm thiếp Thầy cũng biết được.

Người rất thích nghe kinh Kim Cang, nên mỗi khi về hầu Người, tôi lại tụng kinh Kim Cang cho Người nghe mỗi sáng chiều, ngay bên giường Người. Người ngồi thẳng lưng nhắm mắt, hoàn toàn đăm chiêu trong lời kinh. Bởi thế mà mỗi khi trì kinh Kim Cang hàng ngày, lúc đi đứng nằm ngồi, tồi đều mường tượng bóng dáng Thầy bên cạnh đang lắng nghe mình dù tụng lớn tiếng hay đọc thầm trong tim. Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như lai.Thế cho nên, giữa Phật và thầy và trò chẳng bao giờ có sự ngăn cách. Kinh Kim Cang quả đã đem lại cho ta một lối nhìn thật khoáng đạt, một niềm lạc quan bi tráng.

Những ngày kế tiếp, nhiều đoàn khách tăng và phật tử từ các tỉnh xa xôi như Bà Rịa Vũng Tàu và các tỉnh miền Nam; miền Trung từ Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên; từ cao nguyên Trung phần như Buôn Mê Thuột, Pleiku, Kontum, Daklak; từ miền Bắc Trung phần như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị … lục tục kéo về, xe cộ tấp nập suốt đêm rồ máy chạy vào sân chùa. Những đoàn phúng điếu này là các ban đại diện Giáo hội, đại diện Ni bộ, đại diện các Phật học viện, ni viện, thiền viện lớn tại TP.HCM và các tỉnh thành khắp nước. Có nhiều đoàn phúng điếu mà đối với Thầy chúng tôi thuộc hàng hậu học. Họ lặng lội đến viếng tang lễ từ những địa phương rất xa xôi, lại gặp mùa miền Trung đang bão lụt, làm cho môn đồ hiếu quyến chúng tôi rất cảm kích. Cảm động nhất là lời phát biểu của đại diện chư tăng và phật tử Tổ đình Thập Tháp Bình Định trước kim quan. Các vị ấy chưa từng biết mặt Ni trưởng chúng tôi mà chỉ nghe cố Hòa thượng Thầy họ kể lại đức hạnh của Người. Lúc còn sinh tiền cố Hòa thượng trú trì Tổ đình Thập Tháp, mỗi khi tôi đến hầu thăm, ngài đều kể: “Ngày xưa, tôi đã nhờ Sư bà Diệu Không mà được đi học. Bà đóng tiền ăn học cho tôi”. Lời Ngài dạy khiến tôi cảm khái vô vàn; thực bậc chí nhân luc’nào cũng nhớ ơn thật lâu: Bát cơm Phiếu mẫu mấy vạn cho cân. Nay quý thầy đệ tử Ngài cũng vì nhớ ơn Thầy mình mà không quản ngại khó nhọc, từ xa bương chải đến đi điếu một người mình chưa từng gặp mặt, đấy quả thực là hổ phụ sinh hổ tử vậy.

Hàng ngàn người ở lại mà vẫn có đủ chỗ cho tất cả mọi người. Lại cũng có nhiều nhà và tịnh thất xung quanh chùa được trưng dụng để đón khách từ xa về ở lại, nên sự sắp xếp chỗ nghỉ ngơi và đón tiếp khách ni, Phật tử thậ chu đáo. Tuy đông, mà nhà bếp rất thanh tịnh vì do quý sư cô trông coi. Tất cả mọi người đều làm việc trong chánh niệm tưởng nhớ công đức bậc Thầy. Ai cũng bảo Sư bà thật có phước, người ra đi khi chùa vừa hoàn tất công việc trùng tu không lâu, nên mới có chỗ để cử hành đám tang trọng thể như vậy. Ngay cả củi, nước cũng đầy đủ trong những ngày tang lễ. Trước đấy trời hạn hán, giếng chùa khô cạn, phải ra múc nước ở giếng làng, thế mà khi Người nằm xuống, trời đổ giông tố bão bùng suốt mấy hôm làm cho các giếng trong chùa đều tràn đầy nước đủ dùng cho tất cả mọi người. Các đệ tử hầu cận cho biết nhiều năm trước, Thầy đã nói khi Thầy chết, sẽ có giông bão và nước sẽ tràn trề, thì nay quả đúng như vậy. Trời đất như cùng lo việc lễ tang Thầy. Càng về sau, nhất là vào ngày đưa đám và ngày tạ tháp, chúng tôi càng thấy rõ sự cảm ứng bất khả tư nghì này, mà kẻ không đích thân chứng kiến và thiếu lòng tin sẽ cho là thần thánh hóa.

Kim quan được quàn một lễ. Những ngày đầu trời mưa ra rả nhưng gần đến ngày nhập tháp, khi nước đã đủ dùng, khi có nhiều đoàn phúng điếu từ phương xa đến, thì trời lại tạnh ráo mát mẻ. Ban đem vì quá đông người không đủ mùng che nên tất cả đều nằm ngủ giữa nền xi măng láng bóng trong các phòng của chư ni cựu trú. Mỗi phòng bình thường chứa một hai người thì vào dịp này ban đêm chứa đến mười mấy người. Nhớ lại hai tuần lễ trước chúng tôi vừa về thăm Thầy, Thầy bảo ở lại. Thế mà vì khí trời quá nóng bức, chúng tôi đã phải ra về. Nào ngờ có lẽ Thầy linh cảm chúng tôi sẽ không gặp lại Thầy, nên mới bảo chúng tôi ở lại. Chúng tôi hình như cũng có linh cảm ấy, nên đã y áo chỉnh tề đảnh lễ Người trước khi ra đi, một điều mà tôi chưa từng làm trong những lần viếng thăm trước đấy. Bây giờ ban đem trời lạnh, nên đông người không sao cả, chứ như hai tuần trước thì một người cũng không ở lại nổi, khi mà nhiệt độ lên đến 38°C.

Vì có mang theo mùng cá nhân nên tôi không biết ngoài mùng nhiều muỗi hay ít muỗi, nhưng theo lời các chị trong phòng, thì những đêm trước ngày tiễn đưa kim quan nhập bảo tháp, tự nhiên muỗi lặn đâu mất cả, trong lúc mọi người đều phải ngủ không mùng vì đông quá.

Sáng mồng một tháng chín là lễ khiển điện di quan cử hành hết sức trọng thể với sự hiện diện di quan cử hành hết sức trọng thể với sự hiện diện đông đủ của chư tôn thiền đức Tăng Ni phật tử ở Thừa Thiên và từ khắp nơi đến, cùng đại diện các đoàn thể tôn giáo và chính quyền.

Hòa thượng Thiện Siêu làm lễ phất trần kim quan. Rất lâu, Ngài đứng nhìn chăm chăm không chớp mắt vào linh vị. Không gian lặng im phăng phắc, thời gian như ngừng đọng lại, lùi về dĩ vãng. Tôi như cùng tâm tư Ngài, đi ngược thời gian trở lùi về thuở mà bản thân mình còn chưa gá mẫu thai, đầu thập niên 1930, để tìm lại hình bóng một công nương quận chúa hoa nhường nguyệt thẹn, tuy mang thân liễu vì dời, vì tương lai của đạo pháp mà dám hi sinh cả tài sản, cả thân mạng, và ngay cả danh tiết của mình. Hiểu được thầy tôi, có lẽ chỉ có những bậc Thầy và thiện tri thức đồng hành của Người nhu uhai vị trụ trì tổ đình Trúc Lâm thuộc hai thế hệ – Cố Hòa thượng Giác Tiên và Cố Hòa thượng Mật Hiển – Cố Hòa thượng Già Lam và nhiều vị đã viên tịch. Nay hiện diện trong buo73i lễ chỉ còn duy nhất Hòa thượng Thiện Siêu và vài vị tôn ni như Sư bà Viên Minh, Sư bà Diệu Trí. Chư vị cao đức ấy đã cùng nhau trải qua những thăng trầm của lịch sử, làm tường cột chống đỡ ngôi nhà Phật pháp trải qua bao nhiêu cuộc tang thương, trong đó Thầy tôi – lúc còn để tóc trong 12 năm thọ sa di ni giới – có lúc phải đem bản thân mình ra làm kế mỹ nhân, có lúc suýt thành thánh tử đạo, tất cả chỉ vì Pháp không vì danh, dù là cái danh “tử đạo”. Vâng đúng hơn, Thầy tôi đãsống đạo cho đến hơi thở cuối cùng. Nhớ lúc sinh tiền Người, tôi là một đứa đệ tử ngang bướng, không ngại nói ra những gì mình nghĩ. Nếu có tâm địa hẹp hòi, chắc Thầy tôi sẽ giận tôi lắm, và tôi đã không có ngày hôm nay. Mỗi khi ngồi bên Thầy lúc vui chuyện, tôi thường bày tỏ những điều làm tôi ngạc nhiên thắc mắc. Tôi đã phát ngôn như sau: “Bạch Sư bà, con thấy Sư bà trụ trì (chỉ Sư bà Viên Minh trú trì chùa Hồng Ân) thọ giới một lần với Sư bà, dịch kinh hay hơn Sư bà, viết chữ cũng đẹp hơn Sư bà, văn hay chữ tốt là thế, mà sao đối với Sư bà, Sư bà trụ trì luôn luôn xem như bậc Thầy chứ không coi như bạn ?” Thầy chỉ phá lên cười khoái chí mà không giải thích. Tôi lại nhớ có lần cũng đã phát ngôn tương tự với bổn sư tôi là đức đại lão Hòa thượng cố đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN lúc ấy còn sinh tiền quý vị Hòa thượng trú trì các tổ đình Thuyền tôn, Thây Thiên… những vị cao niên hơn Thầy bổn sư tôi, sống đến trên trăm tuổi, và được Phật tử Huế xem như Phật sống. Những lúc quý ngài đến chùa Tường Vân thăm Thầy bổn sư tôi – lúc ấy tôi hãy còn là một nhóc tì học Trung học, cách nay nữa thế kỷ – tôi thấy quý ngài này đối với bổn sư tôi rất mực cung kính, ngồi dưới thấp, còn thầy bổn sư tôi vẫn chiễm chệ ngồi cao trên pháp tòa của ngài, không đứng dậy chào mà chỉ cười hoan hỷ mời: “Mấy Thầy ngồi đó đi”. Thị giả xuống bếp bưng lên một khay trà nóng để lên “hộc tợ” rồi khom lưng cung kính vái chào. Các vị tôn khách mặc chiếc áo nâu bình dị, đeo mỗi người một tràng hạt to dài, ngồi thẳng lưng lấy chuỗi ra lần. Thầy bổn sư tôi chẳng bắt chuyện gì cả, các ngài khách cũng chẳng tỏ vẻ gì là bực mình sốt ruột, cứ ngồi đó mà nhấp trà và lần chuỗi. Trong bầu không khí trang nghiêm thanh tịnh của ngôi chùa núi, tôi chỉ nghe tiéng lần tràng “tróc, tróc, tróc” khoan thai đều đặn. Rồi đột nhiên, các vị khách đứng dậy chào về. Thầy bổn sư tôi mỉm cười thật tươi:“Khi nào rảnh, mấy thầy lại đến chơi, nghe”. Rồi bước xuống pháp tòa, cùng đi với khách một đoạn đường ra đếnhàng rào dâm bụt thì trở vào, lại lên pháp tòa ngồi làm thinh, lưng thật thẳng, nét mặt tự tại uy nghiêm. Tôi ngồi học bài ở nơi ngưỡng cửa nhưng không bỏ sót một chi tiết nào của cuộc viếng thăm kỳ quặc ấy. Thái độ của của vị chủ nhân cũng như những vị khách quý đã gây một ấn tượng sâu sắc trong tim tôi. Lựa lúc thầy bổn sư vui chuyên, tôi cũng nêu lên thắc mắc: “Bạch Ôn, sao quý Hòa thượng Tây Thiên, Thuyền Tôn, Từ Hiếu … cũng là trụ trì những Tổ đình lớn còn đẹp hơn chùa mình, con tưởng các ngài ấy cònlớn hơn Ôn nữa, sao mà họ cung kính nể nang Ôn đến thế ?” (hồi đó Thầy bổn sư tôi chưa được tấn phong chức Tăng Thống, chỉ là vị trú trì tổ đình, nên tôi nghĩ các ngài đều ngang nhau). Thầy bổn sư tôi chỉ nói: “Con làm sao hiểu được. Những người ngang hàng nhau mới hiểu nhau”. Chỉ có nhữngngười ngang cơ, cùng một ca líp (calibre), một tầng số, mới biết được giá trị của nhau và kính nể nhau, thật đúng như vậy. Cổ nhân có câu “vô tri bất mộ” có lẽ là thế. Thế cho nên, có là Bồ-đề, thì mới hiểu được Bồ-tát. Trong cuộc đời bon chen danh lợi, địa vị đầy ngã pháp hơn thua này, mấy ai hiểu được tấm lòng vô ngã của một Bồ-tát ?

Ngày tiễn đưa kim quan, trời tạnh ráo mà không quá nắng, có lẽ vì (?) tất cả chúng tôi những đệ tử phải đi chân không trên quãng đường hai cây số đầy gai và miểng chai và đá nhọn từ chùa lên đến đỉnh đồi, nơi mà Bảo tháp Thầy đã được các đệ tử xây từ mười năm trước. Cũng may không một ai bị dẫm phải gai, mặc dù đường rất xấu, càng iđ lên càng đầy những cây gai, dứa mọc hoang và đá nhọn lởm chởm. Từ bảo tháp trông xuống, cNảh trí hết sức thanh nhã u nhàn, làm cho ta thấy cái chết không có vẻ gì là u sầu ảm đạm, mà chết là một sự an nghỉ, trở về viớ cỏ cây mây nước:

Từ đây ngàn kiếp rong chơi

Người ôm trăng ngủ trên đồi mây bay

(thơ điếu Thượng tọa Viên Ngộ Đà Lạt, 1995)

Sống thực là rộn ràng đau khổ và nhiều điều lắm chuyện, làm gì cũng thấy áy náy trong tâm, mà không làm gì cả thì cũng không được. Nhìn tấm ảnh Thầy nằm trong quan tài, tôi thấy Người đầy vẻ an lạc, như cố ni sư Thể Thanh cũng mỉm cười khi nằm trong quan tài. Những bậc chân nhân đều mỉm cười an lạc lúc thở ra hơi thở cuối.

Chúng tôi lên viếng tháp vào ngày thứ ba kể từ khi nhập tháp, mà thông thường gọi là mở cửa mả, cốt để đảnh lễ Thầy trước khi trở vào Sài Gòn, và cũng để tham dự lễ tạ tháp. Buổi lễ thật trang nghiêm và cảm động. Lần đầu tiên tôi nghe đọc sớ tạ hoàng thiên hậu thổ, sơn thần thổ địa trong cuộc an trí bảo tháp, ra mắt những kẻ khuất mặt khuất mày từ lâu đã cư trú nơi đây, xin họ hãy hoan hỷ đón nhận một vong linh mới, đừng phiền đừng nhiễu. Có những tên trong bản sớ nghe rất lạ tai như chúa lội chúa lạc, ngoài những tên tôi đã nghe và không kém phần cảm khoái, đó là ngưu đầu mã diện nhị vị đại tướng quân. Tôi thường nghe người ta mắng nhau đồ ngưu đầu mã diện hay gọi nôm na là đầu trâu mặt ngựa, thế mà trong bản sớ gọi họ bằng danh từ rất lễ phép như vậy, thật hay. Đại thừa Phật giáo có nhiều chỗ nên thơ là thế, xem bình đảng tất cả là một, một là tất cả, và lành dữ, sống chết cũng không khác gì nhau mấy tí. Thầy tôi bây giờ đã hòa nhập vào vũ trụ bao la, thầy được sự giữ gìn hộ vệ của tất cả, không những của chư Phật, Bồ tát, thánh chúng, mà còn của những chúa lội, chúa lạc và ngưu đầu mã diện nhị vị đại tướng quân. Ai xấu ác cách mấy, mà đến gần Thầy cũng sẽ được cảm hóa thành những Phật tử Bồ tát thánh thiện.

Sau khi làm lễ và phân phát đồ cúng xong, quý Thầy ra về. Còn lại một đám chừng 30 người chúng tôi ở lại đi nhiễu quanh tháp. Có một số cư sĩ cũng dự lễ “mở cửa mả” này, hóa ra là những người con của cụ cố Cao Xuân Xang. Họ đều là những người thuộc tầng lớp trí thức khả kính ngày xưa tại Huế, nay đều trên dưới thất tuần, người thì ở lại, người ra nước ngoài, nhưng đều đến dự tang lễ và ở lại cho đến ngày tạ tháp. Một vị trong đó là Thầy cũ của kẻ viết bài này khi còn học trường nữ học Đồng Khánh Huế. Những người này thương Thầy như mẹ ruột, và đối với Thầy hết sức cung kính, đủ biết đức hóa của Thầy ngay cả ở trong gia đình.

Tiếng niệm Phật vang rền giữa không trung theo giọng bổng trầm thánh thót mà tôi nghĩ chắc do Thầy tôi sáng chế, vì không đâu tôi được nghe giọng niệm phật hay như vậy, ngoại trừ tại những nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của Người. Có lần một ni sư ở Vũng Tàu ghé thăm nhân mùa an cư, nghe chúng tôi kinh hành niệm Phật, đã thốt lời tán thán là nghe hay như giọng chim Ca-lăng-tần-già vậy.

Trong không gian khoáng đạt của đỉnh đồi vào buổi sáng đẹp trời ấy, giữa lúc kinh hành trong tiếng niệm Phật vang rền tôi bỗng trực nhận ra rằng Thầy tôi vẫn còn mãi đó với hạnh nguyện của Thầy được tiếp nối qua bao nhiêu đệ tử nhiệt tình. Từ những thị giả tận tụy với Thầy, những người gánh nước nhà cầu, quét sân hay phục vụ trong nhà bếp, đến những người đã ra trụ trì giáo hóa, và cho đến những kẻ ngồi không như tôi, không ai là không phụng đạo và phụng sự chúng sinh bằng cách riêng của họ, vì tất cả đều làm việc trong tinh thần hoan hỉ và trong niệm thương Thầy. Tôi thường thấy câu: Phụng sự chúng sinh là báo đền ơn Phật; và nay tôi xin thêm: Phụng sự Phật là báo ơn Thầy.

Tạ tháp xong, chúng tôi còn ở lại trên đồi một lúc lâu để thăm viếng, thắp hương nơi phần mộ của song thân Thầy tôi và để thưởng thức không khí thanh tịnh ban mai, vì thấy cảnh trí quá đẹp, trời lại chưa nắng lắm mặc dù đã hơn chín giờ sáng. Nhưng khi chúng tôi đốt hương xong xuôi ở “Đồi thông hai mộ”- tên người ta gọi nơi an nghỉ của song thân Thầy – vừa xuống đến chân đồi, thì mưa mới bắt đầu trút xuống. Thầy ơi, có phải chăng giờ đây, Thầy đã hòa nhập với đất và trời để chẻ chở cho chúng con, họ trì cho chúng con?

Thích Nữ Trí Hải

LỜI CẢM TẠ

CỦA BAN TỔ CHỨC TANG LỄ, MÔN ĐỒ VÀ PHÁP QUYẾN

{Đọc trong dịp cung thỉnh kim quan cố Ni trưởng THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG nhập bảo tháp ngày 01-09-Đinh Sửu (02-10-1997)

NAM MÔ TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT

Ngưỡng bạch Chư Tôn Hòa thượng Chứng minh,

Ngưỡng bạch Chư Tô Đức Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế.

Ngưỡng bạch Chư Tôn Thiền Đức.

Kính thưa quý vị quan khách,

Kính thưa quý Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni,

Thưa toàn thể đồng bào Phật tử,

Thưa quý vị,

Ni trưởng Thích Nữ Diệu Không, Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ủy viên Thường trực Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế, Khai sơn trú trì Ni viện Hồng Ân sáng lập Ni viện Diệu Đức, xã Thủy Xuân, thành phố Huế đã an nhiên bất động, giữa cõi đời huyễn chân như thị vào lúc 02 giờ 00 ngày 22 tháng 8 năm Đinh Sửu tại Ni viện Hồng Ân, và hôm nay lễ cung thỉnh kim quan cố Ni trưởng nhập bảo tháp đến đây đã thập viên mãn.

Thay mặt Ban Tổ chức, môn đồ và pháp quyến, xin thành kính đảnh lễ.

– Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS GHPGVN, Trưởng Ban Giáo dục Tăng Ni toàn quốc, Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, Trú trì Tổ đình Từ Đàm và Thiền Tôn, Thừa Thiên Huế.

– Hòa thượng Thích Khả Tấn, hàng giáo phẩm Chứng minh, Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế, Trú trì chùa Giác Lâm.

– Hòa thượng Thích Đức Phương, ủy viên HĐTS GHPGVN, Trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế, Trú trì Tổ đình Trà Am và Lam Sơn – Huế.

– Hòa thượng Thích Đức Trì, ủy viên HĐTS GHPGVN, Phó Trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế, Trú trì chùa Ba La Mật – Huế.

Chứng minh tang lễ.

Xin thành kính đảnh lễ.

– Chư tôn đức Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế.

– Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh.

– Ban trị sự Phật giáo tỉnh Khánh Hòa, phái đoàn Phật giáo Bình Định.

– Tịnh xá Trung tâm thành phố Hồ Chí Minh.

– Ban Đại diện Phật giáo các huyện Phú Lộc, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phong Điền và Quảng Điền.

– Hệ phái Nam tông Thừa Thiên Huế, hội dòng tu Thiên An.

Đã Chứng minh, chỉ đạo, hộ niệm, phúng điếu và hôm nay lại hiện diện nơi đây để tiễn đưa kim quan cố Ni trưởng nhập bảo tháp.

Xin chân thành tri ân sâu sắc:

– Ban Tôn giáo của chính phủ

– Ông Vũ Thắng nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

– Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ VN, Ban Tôn giáo chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Thành ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ VN, thành phố Huế.

– Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ VN xã Thủy Xuân.

– Chi bộ Ủy ban nhân dân, quý vị bô lão, thôn Thượng i và quý vị đại diện Thập nhị Tôn phái xóm Thuận Hòa.

Đã đến thăm viếng phúng điếu, đặt vòng hoa tưởng niệm và hôm nay lại về đây tiễn đưa kim quan cố Ni trưởng nhập bảo tháp. Đặc biệt đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho việc tổ chức tang lễ và cung thỉnh kim quan nhập bảo tháp. Chúng tôi vô cùng cảm kích, kính cầu chúc quý vị an vui và đạt nhiều thắng lợi trong bước tiến mới.

Xin thành kính đảnh lễ niệm ân:

– Hội đồng Điều hành Học viện PGVN tại Huế, Hội đồng Điều hành viện và Viện Nghiên cứu Phật học thành phố Hồ Chí Minh.

– Ban Giám hiệu, Ban Giáo thọ, Tăng Ni sinh Học viện và trường Cơ bản Phật học Thừa Thiên Huế.

– Ban Từ thiện Phật giáo Thừa Thiên Huế.

– Quý môn phái Báo Quốc, Tường Vân, Tây Thiên, Hải Đức, Kim Tiên.

– Chư Tôn thiền đức Trú trì các Tổ đình, Tu viện, Tự viện, Tịnh xá, Tịnh thất trong Thừa Thiên Huế, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh bạn.

– Ni bộ Bắc tông Thừa Thiên Huế.

– Ni bộ Bắc tông tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh.

– Ni bộ Bắc tông tỉnh Phan Thiết, Khán Hòa, Lâm Đồng.

– Quý vị Ni trưởng Ni sư, Sư cô thuộc Ni bộ Thừa Thiên Huế, thành phố Hồ Chí Minh, Phan Thiết, Quảng Nam Đà Nẵng và Nghệ An

Đã thân lâm thăm viếng phúng điếu, niệm hương cầu nguyện và trợ duyên cho việc tổ chức tang lễ và tham dự lễ cung thỉnh kim quan cố Ni trưởng nhập bảo tháp.

Xin chân thành biết ơn:

– Đài phát thanh, Truyền hình Thừa Thiên Huế và thành phố Huế.

– Ban Điều hành và quý vị Y Bác sĩ Tuệ Tĩnh đường Diệu Đế đã thăm viếng, đưa tin, phục vụ và giúp đỡ trong quá trình tổ chức tang lễ

Xin ghi nhận công đức:

– Ban hộ tự các Niệm Phật đường, các đạo tràng trong tỉnh, thành,

– Ban Hướng dẫn, các đơn vị GĐPT trong tỉnh thành đã đến thăm viếng, hộ niệm, phúng điếu, cầu nguyện, trực tiếp tham gia, hỗ trợ nhiều mặt cho Ban tổ chức tang lễ.

Chúng tôi xin đem công đức này dâng lên Tam Bảo, cầu chúc quý vị thân tâm trường lạc, đạo nghiệp viên thành.

Kính thưa quý liệt vị.

Trong quá trình tổ chức tang lễ, chắc chắn không tránh khỏi nhiều thiếu sót, cúi xin Chư Tôn Thiền đức, quý vị quan khách và toàn thể đồng bào Phật tử niệm tình hoan hỷ.

NAM MÔ HOAN HỶ TẠNG BỒ TÁT MA HA TÁT.

— o0o —